Showing posts with label Phê Bình Văn Hoc. Show all posts
Showing posts with label Phê Bình Văn Hoc. Show all posts
Saturday, July 7, 2018
Saturday, May 26, 2018
Nhà thơ Du Tử Lê
Nhà thơ Du Tử Lê
Mặc Lâm
Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam. Ông làm thơ rất sớm và bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1957.
Vào năm 1972, Du Tử Lê được trao Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc Việt Nam Cộng Hòa, bộ môn thơ với tuyển tập “Thơ Du Tử Lê 1967-1972”. Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ông định cư tại Hoa Kỳ và tiếp tục sáng tác cho đến hôm nay.
Du Tử Lê cũng là một nhà báo chuyên nghiệp, một phóng viên chiến trường thời chiến tranhViệt Nam. Ông từng là đại uý trong QLVNCH và là thư ký tòa soạn cuối cùng của Nguyệt san Tiền Phong.
Sau khi ra khỏi trại tỵ nạn Pendleton ở Nam California hồi 1975, ông tham gia ngay vào lĩnh vực báo chí tại hải ngoại. Ông từng là chủ nhiệm tờ báo văn học, chính trị Nhân Chứng, rồi tuần báo Tay Phải và sau cùng là tờ Văn Nghệ ở Houston vào đầu thập niên 90.
Du Tử Lê là nhà thơ duy nhất được các báo lớn của Mỹ như tờ New York Times, Los Angeles Times phỏng vấn và đăng tải thơ. Ngoài ra, thơ của ông đã được dùng để giảng dạy tại các Đại học lớn của Hoa Kỳ và Âu Châu. Ông cũng được mời diễn thuyết về thơ Việt Nam ở các đại học lớn của Mỹ và cả Âu Châu trong đó có hai lần ở Harvard và những khóa hội thảo dành cho giáo sư Mỹ.
Gần đây nhất, hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam tại Houston, Texas đã tổ chức chương trình vinh danh ông với chủ đề “Du Tử Lê, 50 năm trên ngọn tình sầu”. Hôm nay chúng tôi mời quý vị thưởng thức vài bài thơ nổi tiếng của ông để hiểu thêm một ít trong những khía cạnh thi ca của nhà thơ được rất nhiều người biết tiếng này.
Nỗi buồn xa xứ
Là nhà thơ nổi tiếng và lìa nước ra đi rất sớm, Du Tử Lê mang nặng sự thống hối khi xa quê hương như phần đông người Việt xa xứ. Có điều, khác với chúng ta, nhà thơ đã tận dụng năng khiếu thi ca của mình để khoát lên nỗi buồn xa xứ những chiếc áo thấm đẫm hoài cảm và phảng phất điều mà con người hằng lo sợ nhất đó là chết nơi xứ người.
Tâm lý này đã từ lâu ăn sâu vào tiềm thức chúng ta vì văn hóa, trong đó đề cao mồ mã như một thực thể tiếp nối sau khi bước vào thế giới khác. Du Tử Lê đã viết chúc thư cho ngày chết của mình với một ước ao duy nhất:
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển đời lưu vong không cả một ngôi mồ vùi đất lạ thịt xương e khó rã hồn không đi sao trở lại quê nhà
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi bên kia biển là quê hương tôi đó rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì
Không biết biển cả có vui lòng thực hiện lời di chúc của nhà thơ về với đất mẹ hay không nhưng chắc một điều rằng, nỗi buồn của tác giả chỉ có thể chấm dứt ở hơi thở cuối cùng:
Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.
Tiếng thở dài của Du Tử Lê không chấm dứt, trong khi được mang ra biển, nhà thơ vẫn còn ngoảnh lại xem có ai trong những người đưa tang mình lên tiếng hát bài quốc ca mà đã quá lâu nhà thơ không được nghe ai hát.
Bài hát quốc ca, kể từ khi xa xứ đã trở thành kỷ vật, nằm quạnh hiu trong ký ức và khi được nghe ai hát lại, người ta trở nên nhân bản hơn, hiền dịu hơn vì được mang trở về chốn cũ lắng nghe hơi thở của đất mẹ. Nhà thơ thở dài thương cho thân phận bài hát nay đã trở thành niềm hoài tưởng, hay nhà thơ đang thở dài cho thận phận lạc cư của mình?
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển và trên đường hãy nhớ hát quốc ca ôi lâu quá không còn ai hát nữa (bài hát giờ cũng như một hồn ma)
Không ai có thể nghĩ rằng sau này chúng ta có thể liên lạc với trong đất nước được. Lúc đó mẹ và vợ con tôi còn kẹt tại Việt Nam, trong xúc động tôi viết bài “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển” nó giống như một mơ ước.
Tôi xin nhắc rằng hồi đó nếu ai qua năm 75 thì cho đến năm 77 chúng ta không có một sinh hoạt nào hết cho nên ngay cả cái câu mà nhiều người thắc mắc : “Ôi lâu quá không còn ai hát nữa, bài hát giờ cũng như một hồn ma” lúc ấy chúng ta hoàn toàn tuyệt vọng.
Cuộc chiến Mậu Thân đầy nước mắt
Nhà thơ Du Tử Lê vừa cho chúng ta biết đôi điều về bài thơ “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển” miêu tả lại tâm trạng chung của những người ra đi vào thời gian đầu sau khi cuộc chiến kết thúc. Riêng về bài thơ “Khúc Thụy Du” thì theo ông có một tiểu sử đầy những xác người của cuộc chiến Mậu Thân đầy nước mắt:
Đầu năm 1968 khi tôi được cục Tâm Lý Chiến cử đi mặt trận ở Cây quéo, tôi đi qua nhiều đoạn đường mà xác chết của dân chúng cũng như của hai phía vung vãi khắp nơi tôi cũng thấy những con chó gặm những thi thể này và tôi viết bài thơ Khúc Thụy Du trong bối cảnh này…sự thực thì bài thơ đặt vấn đề những người yêu nhau trong hoàn cảnh chiến tranh như vậy thì số phận của tình yêu đó phải được nhìn như thế nào?
tôi làm ma không đầu tôi làm ma không bụng tôi chỉ còn đôi chân hay chỉ còn đôi tay sờ soạng tìm thi thể quờ quạng tìm trái tim lẫn tan cùng vỏ đạn dính văng cùng mảnh bom thụy ơi và thụy ơi
Nhà thơ tuy diễn tả cuộc chiến bằng những từ ngữ rất mạnh rất ấn tượng nhưng nghe sao vẫn đậm chất lãng mạn, trữ tình. Điệp khúc Thụy ơi và thụy ơi lập đi lập lại gây cho người nghe cái cảm giác của tình nhân gọi tình nhân và đúng như nhà thơ nói, bài thơ đặt vấn đề những người yêu nhau trong hoàn cảnh chiến tranh như vậy thì số phận của tình yêu đó phải được nhìn như thế nào?
Khi nhạc sĩ Anh Bằng đưa bài thơ trở thành bất hủ qua dòng nhạc của ông thì người nghe hoàn toàn không còn một ý niệm nào về chiến tranh cả. Thân phận người nam trong bài thơ trở thành định mệnh, và con chim bói cá bay lẩn quẩn đâu đó trong đời sống thường nhật sẽ thay thế vĩnh viễn tính thuần nhất của tình yêu đôi lứa bằng những ám ảnh khôn nguôi của cái chết.
như con chim bói cá trên cọc nhọn trăm năm tôi tìm đời đánh mất trong vũng nước cuộc đời …..
như con chim bói cá tôi lặn sâu trong bùn hoài công tìm ý nghĩa cho cảnh tình hôm nay ……
mịn màng như nỗi chết hoang đường như tuổi thơ chưa một lần hé nở trên ngọn cờ không bay đôi mắt nàng khôn khép bàn tay nàng khôn thưa lọn tóc nàng đêm tối khư khư ôm tình dài
Phạm Đình Chương đã phổ bài “Đêm nhớ trăng Sài Gòn” của Du Tử Lê trong một giây khắc của đồng cảm sau nhiều tháng nhìn ngắm và suy tưởng. Kết quả là bài thơ này nhanh chóng đi vào tâm hồn của người Sài Gòn xa quê với tốc độ không thể đo đếm bằng phương tiện của khoa học mà chỉ có thể hình dung bằng chính quả tim mình.
Tốc độ tình yêu
Đó là tốc độ tình yêu. Vâng, chỉ có tình yêu nồng nàn lắm mới có thể nhào nắn ngôn ngữ trở thành hình tượng sống động và bồi hồi như vậy. Du Tử Lê tự ngắm mình, buông một một tiếng thở dài trong mông quạnh của cuộc đời xa xứ nhưng khi nhớ về Sài Gòn, ông dịu dàng như không thể dịu dàng hơn với những hình ảnh tuyệt đẹp chỉ có trong thi ca:
Đêm về theo vết xe lăn Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng Tìm tôi đèn thắp hai hàng Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây
Ngỡ hồn ta xứ mưa bay Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa Đêm về theo bánh xe qua Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh
Nhớ em kim chỉ khứu tình Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè Nắng Trương Minh Giảng trưa hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường Đêm về theo vết xe lăn Tôi trăng viễn xứ sầu em bến nào?
Du Tử Lê nổi tiếng là thi sĩ có nhiều bài thơ được phổ thành ca khúc nhất trong nhiều thập niên. Âm nhạc một phần nào chuyên chở tình ý và ngôn ngữ thơ của ông đến với người nghe và âm nhạc cũng chứng tỏ nhiều khả năng thẩm thấu vào tâm hồn một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, nếu một lúc nào đó ngồi riêng một mình, cùng một bài thơ của Du Tử Lê, người đọc sẽ có một cảm giác khác. Cảm giác bài thơ còn trong trạng thái thô, tươi và hơi thở của chữ nghĩa sẽ lan tỏa trên từng dòng từng chữ. Thơ của ông nếu được im lặng chiêm nghiệm sẽ hiện lên nhiều khoảng không bất ngờ.
Những khoảng không thinh lặng cần suy tưởng và hòa nhập khiến thơ Du Tử Lê vừa mang tính trãi nghiệm lại vừa bàng bạc ngôn ngữ thi ca quyện lẫn vào nhau trở thành chất keo kết dính một cách quyến rũ, khiến thơ của ông đứng riêng, rất riêng một chỗ cô đơn và tuyệt đẹp.
Du Tử Lê – 50 Năm Trên Ngọn Tình Sầu
Hiền Vy
Du Tử Lê sinh năm 1942 tại Hà Nam, Bắc Việt, là cựu học sinh Chu Văn An và sinh viên đại học Văn Khoa Sàigòn. Bài thơ với bút hiệu Du Tử Lê đã được mọi người biết đến lần đầu, vào năm 1957, lúc ông mới 15 tuổi. Ông đã có 46 tác phẩm được xuất bản gồm thơ, truyện, tùy bút. Thơ Du Tử Lê đã được dịch ra nhiều sinh ngữ như Anh, Pháp, Đức và được dùng để giảng dậy tại nhiều đại học ở Hoa Kỳ và Âu Châu.
Ông Nguyễn Ngọc Bảo cho biết lý do Hội VHKHVN đã chọn chủ đề cho chương trình vinh danh Du Tử Lê:
“Trên Ngọn Tình Sầu do Từ Công Phụng soạn vào cuối thập niên 60 vẫn là ca khúc được ưa chuộng nhất. Năm 1993 kỷ niệm nửa thế kỷ âm nhạc Việt Nam, hội âm nhạc trong nước đã công bố 50 ca khúc hay nhất, theo sự chọn lựa của quần chúng thì trong số này có Trên Ngọn Tình Sầu.”
Sự sáng tạo trong Thơ Du Tử Lê, lúc đầu, cũng gặp nhiều sự chống đối trong giới văn nghệ sĩ.
Năm 1967, khi giai phẩm Xuân của tạp chí Văn đăng bài thơ lục bát, “Bài Cuối 66” của Du Tử Lê với lối ngắt chữ rất mới và phá luật,
Phố cao, gió nổi, bóng mờ, đêm lu, trời nặng, tôi gù lưng, đi
thì nhà văn Mai Thảo đã cho rằng Du Tử Lê làm thơ Lục Bát rất kỳ cục, có người lại bảo Du Tử Lê lập dị, kẹt chữ, hay là chỉ vì một sự tình cờ …
“Thứ nhất là hoàn toàn không do tình cờ. Cách đây khoảng 40 năm, khi bài thơ đầu tiên tôi ngắt nhịp đi của lục bát, thì thời gian đó chiến tranh đã đến miền Nam Việt Nam rất nhiều. Thế hệ của tôi là thế hệ mà không biết được ngày mai như thế nào cả. Tôi muốn nói thi ca phải phản ánh cái đời sống thực của người thi sĩ.
Ngày xưa cha ông chúng ta làm thơ Lục Bát êm đềm theo nhịp đều, tức là nhịp 2/2, nhưng đến thời tôi là thời của chiến tranh và nếu tôi tiếp tục làm thơ Lục Bát theo kiểu cha ông của chúng ta, thì tôi cho là nó không phản ảnh cái hiện trạng đời sống của chúng ta thời hiện đại, cho nên tôi đã ngắt nhịp đi của nó, tức là tôi cho Lục Bát những nhịp lẻ, hay nói theo âm nhạc là nhịp chỏi.
Mà khi nó chỏi như vậy thì tôi cho rằng nó phản ảnh được cái bấp bênh, cái gập gềnh của đời sống chúng ta qua thi ca, nhất là thể lục bát…”
Giải thưởng Văn chương 1973
Năm 1973, Du Tử Lê đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc với tác phẩm “Thơ Du Tử Lê 1967 – 1972” Trong tập thơ này có bài “Khi Cuộc Tình Đã Chết” bị nhà phê bình văn học Hà Nội, Hoài Thanh lên án là làm suy yếu tinh thần chiến đấu của thanh thiếu niên miền Nam.
Khi được hỏi lời phê bình của Hoài Thanh có ảnh hưởng đến việc sáng tác của ông không, Du Tử Lê cho biết, lời phê bình chỉ làm ông thất vọng:
“Lời phê bình ấy hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến việc sáng tác của tôi cả. Có điều tôi cực kỳ thất vọng vì ông Hoài Thanh là đồng tác giả của cuốn Thi Nhân Việt Nam, xuất bản từ thập niên 40, và tác giả thứ hai là Hoài Trân. Đó là tác phẩm đầu tiên trong giòng văn học của Việt Nam mà phê bình văn học, là cuốn viết về các nhà thơ tiền chiến mà cá nhân tôi rất là quí trọng, yêu mến.
Tôi nghĩ đó là một người có một trình độ thưởng ngoạn thi ca rất là đáng trân trọng, nhưng khi ông ấy biến bài thơ “Khi cuộc tình đã chết” của tôi thành một bài mà ông ấy viết, khi phát thanh trên đài phát thanh Hà Nội vào đêm 30 Tết năm 1973, và gán cho tôi, thứ nhất là lãnh tiền của Mỹ Ngụy, thứ hai là dùng thơ văn lãng mạn để làm suy yếu tinh thần chiến đấu của thanh thiếu niên miền Nam VietNam thì phải nói là tôi cực kỳ thất vọng.
Tôi không nghĩ một người phê bình văn học như vậy mà nhìn một tác phẩm của tôi như vậy, mà có thể kết luận một cách hoàn toàn chính trị, một cách vô lối.
Ông ta có thể trích một bài thơ khác trong tập thơ của tôi và nói tôi chống cộng đi, thì nó hợp lý hơn là khi ông trích bài “Khi cuộc tình đã chết” là một bài hoàn toàn tình cảm, không có một ẩn dụ chính trị nào trong đó cả .”
Năm 1997, nhà xuất bản Đồng Nai tại ViệtNam phát hành tập thơ Lục Bát Tình, là một tuyển tập những bài Lục Bát hay nhất trong thi ca VietNam, trong đó có bài “Khi Trông Thư Thụy Châu” của Du Tử Lê.
Năm 2001, tập thơ “Vì Em Tôi Đã Làm SaDi” ra đời, có những câu như:
xuống tóc. Theo em khép cửa đời vào thiền chỉ để thấy viền môi yêu nhau ai bảo tâm không trụ ? quên hết. Nhìn nhau Nhất quán rồi
Hay:
nước mắt em trên chánh điện tình nở hoa siêu độ hoá tâm kinh đêm đêm tôi nhớ bàn tay cũ và thấy trong kinh đủ bóng, hình
đã gây nhiều tranh cãi trong giới thưởng ngoạn, thì đến năm 2003, trong bài thuyết trình tại Phật Học Đường Vạn Hạnh, DTL đã nhấn mạnh đó là tập “Thơ Thiền Tính”, chứ không phải tập “Thơ Thiền”:
Sở dĩ tôi nhấn mạnh là tập thơ Thiền Tính, tức là những bài thơ trong tập thơ đó, có tính Thiền, tức là tính chất Thiền. Tôi quan niệm khi thật sự là “Thiền” thì người ta không thể nói thành lời được, và càng không thể chuyển hóa nó thành thi ca được.
Những lời phê bình dù khen hay chê, tôi đều biết ơn. Riêng với cá nhân tôi, tập thơ “Vì Em Tôi Đã Làm SaDi” là tập thơ rất là mỏng, do nhà xuất bản Tấn Châu ở Toronto xuất bản, thì đó là một trong những tập thơ đáng kể, trong cái sự nghiệp thi ca, nếu tôi được phép nói như vậy, của cá nhân tôi.”
Hơn 300 bài thơ được phổ nhạc
Có lẽ không ai không đồng ý rằng Du Tử Lê là thi sĩ có thơ được phổ nhạc nhiều nhất. Vâng, với trên 300 bài thơ đã được các nhạc sĩ viết thành ca khúc, trong đó có một số bài đã được nhiều nhạc sĩ cùng phổ. Như bài “Khúc K Riêng Của Chàng” đã được ít nhất là 7 nhạc sĩ viết thành ca khúc. Nhạc sĩ Đăng Khánh viết thành “Khúc K của Lê” nhạc sĩ Phạm Anh Dũng chọn đề tựa “Tôi Xa Người”, với lý do:
“Bài thơ có nhiều nhạc tính nên chỉ nhìn vào bài thơ là thấy phổ nhạc được rồi. Thơ ý tưởng hay, DTL lại là người có sắc thái mới về thơ…”
Nhạc sĩ Đăng Khánh lại linh động hóa việc phổ nhạc, từ thơ Du Tử Lê, như những câu chuyện kiếm hiệp thần kỳ của Kim Dung:
“Trên con đường đi tìm một hôn phối giữa thơ và nhạc, người nhạc sĩ vô hình chung đã làm một cuộc Hoa Xuân Luận Kiếm với một môn phái của thi ca, mà thi ca Du Tử Lê là một Võ Đang, một Thiếu Lâm của thi ca Việt Nam cận đại và hiện đại. Nhạc tính, ngôn ngữ và thông điệp chất chứa trong thơ tình Du Tử Lê là một cái bẫy vô cùng quyến rũ…”
Ca khúc Trên Ngọn Tình Sầu được Từ Công Phụng phổ từ bài thơ “67 Khúc Thêm cho Huyền Châu” của Du Tử Lê trong một trường hợp rất là ngẫu nhiên:
“Có một người bạn của tôi, mà cũng là bạn của Lê nói với tôi là trong tập thơ tình của Du Tử Lê có một bài thơ dễ thương quá, ông coi có ý nhạc nào để phổ nhạc, tôi về xem lại thì thấy quả thật là bài thơ có nét nhạc lạ lắm mà hình ảnh cũng lạ, thí dụ như “Bầy sẻ cũ hom hem,” ông ấy dùng hình ảnh rất gợi hình.
Khi đọc, tôi thấy hay và từ đó tôi có nguồn cảm hứng. Có những hình ảnh trong bài thơ đập vào trí tưởng tượng của tôi nên tôi bắt đầu viế t“Trên Ngọn Tình Sầu” là ý kiến của tôi, tôi đưa ra một số tựa đề cho Du Tử Lê chọn. Du Tử Lê thích Trên Ngọn Tình Sầu, và chúng tôi đồng ý.
Trong bài thơ đó, nếu đọc lại nguyên bản thì thấy thay đổi khá nhiều, thí dụ câu “Bầy sẻ cũ hom hem, chiều mái xám” thì tôi thêm chữ “rêu xanh” để câu nhạc đầy đủ. Với lại cái “rêu xanh” nó gây ấn tượng thời gian nữa…”
Nhà thơ Du Tử Lê lại cho rằng những câu thơ vần trắc của ông, không thích hợp cho việc phổ nhạc, tuy nhiên ông cho biết, khi bài thơ được phổ nhạc, thì bài thơ như được chắp thêm một đôi cánh nữa.
“Riêng cá nhân tôi thì tôi thấy thơ của tôi khá trúc trắc, tôi thường hay mở đầu bài thơ của mình bằng những âm trắc. Và theo tôi, thì tôi nghĩ nó không thích hợp với âm nhạc. Tôi rất biết ơn những nhạc sĩ đã tìm đến với thơ của tôi, vì khi bài thơ được gắn thêm phần âm nhạc, thì tôi nghĩ là nó có thêm đôi cánh khác nữa, ngoài đôi cánh tự thân của nó là đôi cánh thi ca, thì nó sẽ đi xa hơn.”
Mặc dù đã thành danh và là một trong những nhà thơ lớn của thi ca VietNam, Du Tử Lê vẫn khiêm nhường cho rằng sự thành công của ông, phần lớn là do sự may mắn và sự hỗ trợ của gia đình và bằng hữu …
Trong chương trình hôm nay, HienVy đã gửi đến quí vị tiếng hát Duy Trác, Thu Phương và Khánh Hà. Xin cám ơn nhà thơ Du Tử Lê, quí nhạc sĩ và ca sĩ đã góp tiếng trong chương trình hôm nay
HiềnVy tuờng trình từ Houston, Texas
Phân tích bài thơ Ai Đi Rồi Còn Gửi Lại Con Ngươi
Vĩnh Lạc Đoàn Thế Ngữ
Trong phần Âm Thanh và Ngôn Từ này, Nhạc sĩ Vĩnh Lạc Đoàn Thế Ngữ sẽ phân tích thi phẩm Ai Đi Rồi Còn Gửi Lại Con Ngươi của thi sĩ Du Tử Lê.
sông đôi lúc gọi tôi về, ấm áp
dòng tóc nào chung thuỷ một mùi hương.
thuở bé dại ghim mối tình gởi mẹ.
ngắm nhìn cha như một vết thương.
trái tim tôi: một dấu chấm than
thân thể tựa khối sầu quen chuyển, động.
cây khoan gió cho lòng sâu bớt sóng,
lá khoan rơi năm ngón gượm chia, lìa.
mây phản trắc phân từng lô ảnh ảo
bao thước đường rêu đợi bước chân, mưa.
kỷ niệm lợp mái che, chiều, nở dột.
trời xa không tiếp vận sớm mai, vào.
máu xô đẩy những khoang thuyền biển lận;
chở thời gian chìm tiệt cõi âm.
nghe hạt lệ nằm nôi thôi thánh thót;
thành gương soi tôi lúc lâm chung.
mỗi nhân dạng là một con thú lạ
na hồn đau về trả đất nâu.
vai chưa hiểu gánh đời sao quá nặng!
tay buông chưa kịp biết nhận hay cho!
núi đôi lúc gọi tôi về, nín lặng.
những ngọn gai đâu nhớ nổi da người.
tình yêu khắc lên xương nghìn dấu hỏi:
ai đi rồi còn giữ lại con ngươi?
20-10-1992
Monday, May 14, 2018
Trần Vàng Sao, từ Phản chiến đến Phản tỉnh
Nhà thơ Trần Vàng Sao.
Kính Hòa RFA
Nhà thơ Trần Vàng Sao mất vào ngày 9/5/2018 tại Huế, thọ 77 tuổi. Ông là người tham gia cách mạng cộng sản trong chiến tranh Việt Nam và rất nổi tiếng trong giới sinh viên tranh đấu tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Năm 1970 ông ra miền Bắc, và tại đây ông đã gặp rất nhiều khó khăn với nhà cầm quyền Hà Nội vì những gì ông đánh giá và bình luận về xã hội miền Bắc.
Sau đây là ý kiến của nhà văn Nguyễn Viện từ Sài Gòn về số phận nhà thơ Trần Vàng Sao.
Ông Nguyễn Viện từng bị cải tạo không giam giữ vì những ý tưởng đấu tranh bất bạo động của ông vào những năm ngay sau khi Việt Nam thống nhất.
Nhà văn Nguyễn Viện: Ông Trần Vàng Sao, cũng như một số người bạn tôi đã đi theo cách mạng từ rất sớm, từ 1968, hoặc trước 68 nữa. Ông Trần Vàng Sao thì trước 68 ông đã “nhảy núi” (vào chiến khu) rồi. Theo những thông tin chính thức thì khoảng 1970 ông ra Bắc.
Theo nhà thơ Nguyễn Minh Thảo viết giới thiệu cho tập thơ Bài thơ của một người yêu nước do Giấy Vụn in, cho biết rằng giai đoạn ông Trần Vàng Sao ra Bắc có lẽ là giai đoạn khổ cực nhất trong cuộc đời ông ấy. Nhưng đấy vẫn là giai đoạn ông giữ được sự lạc quan và trung thành với lý tưởng, mặc dù tôi nghe nói rằng lúc ấy ông đã bị đì rồi, và một số thơ của ông bị coi là có vấn đề, và đã không được tin dùng ngay khi còn ở miền Bắc. Sau khi thống nhất đất nước thì ông tim cách vào miền Nam, vì không được phép đi chính thức. Tôi biết đây không phải là trường hộ duy nhất, một người bạn tôi cũng rơi vào một tình cảnh như vậy. Và họ đã tự tìm cách bỏ cơ quan mà đi vào miền Nam.
Ông vẫn tiếp tục không được tin dùng, mặc dù với tên tuổi ông ấy, khả năng ông ấy, ông cũng chỉ như là một người phát thư của bưu điện ở làng xã. Sau một thời gian thì ông nghỉ. Theo những gì mà người bạn tôi kể lại thì ông đã sống trong sự nghèo khổ, cùng cực.
Nhưng vượt lên trên sự nghèo khổ đó, ông vẫn giữ tư cách của một con người, phẩm chất một người trí thức, giá trị riêng của mình như một nhà thơ.
Kính Hòa: Trong những tác phẩm của nhà thơ Trần Vàng Sao, thì nhà văn Nguyễn Viện đánh giá bài nào là có giá trị nhất?
Nhà văn Nguyễn Viện: Nổi tiếng nhất vẫn là bài thơ Bài thơ của một người yêu nước mình làm hồi năm 1967. Đây là giai đoạn ông nhiệt tình với cách mạng nhất, nó đầy cái ý vị của của thơ ca cũng như là nỗi đau khổ của một con người.
Còn cái bài tôi cho là khủng khiếp nhất của Trần Vàng Sao là bài Tau chửi, ông sáng tác vào năm 1997, đã trải qua tất cả những giai đoạn đau khổ nhất của cuộc đời mình. Đối với tôi nó giống như sự tổng kết của cuộc đời mình.
Kính Hòa: Những người có số phận như ông Trần Vàng Sao có đông không và lý do tại sao họ có số phận như vậy?
Nhà văn Nguyễn Viện: Những người như Trần Vàng Sao thì cũng không nhiều, nhưng họ rất tiêu biểu cho những người đi theo cách mạng mà có gốc gác trí thức tiểu tư sản.
Tôi đã từng hỏi những người bạn đã từng theo cách mạng như thế này: Với những người như các anh, tương đối gọi là trí thức, hiểu biết, nhiều kinh nghiệm về cuộc sống ở dưới cả hai chế độ. So với mặt bằng chung của xã hội thì có thể nói rằng các anh là những người giỏi. Nhưng tại sao các anh không được sử dụng đúng mức như khả năng của các anh?
Một số người bạn tôi trả lời ràng có lẽ việc đó bắt nguồn từ ông Lê Đức Thọ. Ông Lê Đức Thọ nói rằng đối với những thành phần tiểu tư sản trí thức, thì chúng ta vẫn có thể dùng, nhưng không tin họ được.
Đa số những người bạn tôi biết, thì họ cũng có những chức vụ nào đó, nhưng đều là những chức vụ không có thực quyền. Và chắc là chúng ta có thể kiểm chức được là những người tham gia phong trào sinh viên tranh đấu ở miền Nam, trí thức rất nhiều, nhưng không ai nắm thực quyền, được giao cái gì có thực quyền.
Ông Trần Vàng Sao lại rơi lào một tình huống là những bài thơ của ông làm khi ở miền Bắc là những bài thơ “có vấn đề.” Tức là nó mang tính chất phản tỉnh. Cuộc đời của ông khốn khó vì sự phản tỉnh của mình.
Kính Hòa: Những người như ông Trần Vàng Sao, và những trí thức ở miền Nam đi du học trong những năm 60, 70, tham gia phản chiến, ủng hộ chế độ Hà Nội. Họ đều có một con đường khá là giống nhau là không được sử dụng. Câu hỏi đặt ra là vào thời điểm đó, những thông tin về khối cộng sản, những gì đằng sau bức tường của khối cộng sản, đã có nhiều rồi, nhưng tại sao họ lại có khuynh hướng như vậy?
Nhà văn Nguyễn Viện: Đây cũng là một câu hỏi mà tôi hỏi những người bạn tôi trong phong trào sinh viên tranh đấu.
Tôi hỏi rằng tại sao anh lại theo cách mạng trong khi tôi biết chắc chắn rằng anh biết chế độ miền Nam dù thế nào cũng tự do hơn chế độ miền Bắc?
Đa số tôi nhận được câu trả lời như vầy: Có lẽ sự có mặt của người Mỹ ở Việt Nam là cái lý do trực tiếp nhất tạo nên sự phản ứng của những người yêu nước nói chung. Tôi cũng phải công bằng nói rằng họ hoạt động vì sự thần túy yêu nước, chứ không phải là cộng sản hay không cộng sản. Lúc đấy là họ “chống Mỹ cứu nước” thực sự.
Họ không đặt vấn đề là tại sao người Mỹ lại có mặt ở miền Nam. Họ chỉ thấy cái trước mặt là sự có mặt ấy khiến cho họ phải tìm cách chống lại. Họ cảm thấy họ bị xúc phạm và phải chống lại điều đó.
Tôi còn có cảm giác rằng cái đó là một trào lưu trên thế giới, không biết rằng trong chiến tranh thì có những điều này điều nọ cho cả hai phía, còn khi chúng ta chỉ xét đoán từ một phía thì nó trở nên mất công bằng.
Tâm lý chung của con người là người ta thích bênh kẻ yếu, chống lại kẻ mạnh. Trong tình huống của thời điểm đó thì nước Mỹ là một nước mạnh. Thì sự có mặt của người Mỹ ở Việt Nam gây một sự phẫn nộ chung, không chỉ đối với trong nước mà cả đối với thế giới nữa. Và có lẽ đó chính lf cái lý do đưa đến sự thất bại của người Mỹ ở Việt Nam.
Kính Hòa: Thưa ông nếu như có một nhận xét về số phận của trí thức Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, trước và sau chiến tranh, thì ông có thể nói như thế nào?
Nhà văn Nguyễn Viện: Tầng lớp gọi là trí thức ở Việt Nam có thể nói là không có, nếu mình hiểu theo nghĩa trí thức không chỉ thuần túy là có học, mà còn là những người mà đại diện cho lương tâm của dân tộc, của xã hội, những người phản biện xã hội, vì vai trò trí thức ở Việt Nam rất mờ nhạt.
Cho đến những năm gần đây khi có kiến nghị 72 của nhân sĩ trí thức về việc sửa đổi hiến pháp, tôi cho rằng lúc đó vai trò trí thức mới nổi lên đóng dấu ấn vào đời sống xã hội. Tôi hy vọng rằng trong những ngày kế tiếp thì trí thức Việt Nam sẽ còn đóng góp rất nhiều vào tiến trình phát triển, dân chủ hóa đất nước, để mà làm thay đổi xã hội. Mặc dù rằng giai đoạn sau khi thống nhất người trí thức rất khốn khổ, thật sự là khốn khổ,
Khi nhà thơ Trần Vàng Sao từ trần, báo Tuổi Trẻ tại Sài gòn có bài ca ngợi ông, nhưng không nói gì về giai đoạn ông sống ở miền Bắc, không nhắc đến bài thơ Tau chửi, chỉ có nói rằng đây là một con người đã trải qua cuộc đời trầm nổi truân chuyên.
Sunday, February 4, 2018
Kiểm duyệt bức ‘‘Cội nguồn nhân gian’’, Facebook bị ra tòa
"A l'origine du monde" của Gustave Courbet.AFP/Thomas Coex
Trọng Thành
Bức họa nổi tiếng ‘‘Cội nguồn nhân gian’’ của danh họa Pháp Gustave Courbert một lần nữa lại gây sóng gió. Lần này là với Facebook. Lần đầu tiên tập đoàn tin học Mỹ bị kiện ra tòa án Pháp. Việc Facebook đóng cửa tài khoản của một giáo viên Pháp đưa bức tranh này lên mạng hồi 2011, là nguồn cơn vụ kiện.
Ông Stéphane Cottineau, luật sư của nguyên đơn đòi Facebook phải bồi thường 20.000 euro tiền bổi thường, giải thích : « Chúng tôi đòi hỏi cụ thể là tài khoản của khách hàng của chúng tôi phải được mở trở lại. Việc này là quan trọng, bởi vì ông ấy đã bị kiểm duyệt, bị loại trừ, và điều này khiến ông ấy rất khổ sở. (…) Ông ấy là một giáo viên, ông ấy yêu thích nghệ thuật, muốn dùng Facebook để chuyển tải niềm đam mê nghệ thuật của ông ấy. Vậy mà, giờ đây ông ấy lại bị gạt sang bên lề, phần nào bị coi như một kẻ làm ảnh khiêu dâm, như là một kẻ bỏ đi, không đáng tin, một kẻ có những sở thích bệnh hoạn. Mà điều này hoàn toàn không phải như vậy.
Khi làm điều này, Facebook đã tấn công vào một nguyên tắc cơ bản với chúng ta, đó là tự do biểu đạt. Mới đây thôi, và điều này thật sự là kỳ quặc, tôi được biết có những người đã bị kiểm duyệt, chỉ vì đưa lên mạng bức tranh ‘‘Tự Do dẫn đường cho nhân dân’’ của Delacroix ».
Bảo vệ triệt để quyền tự do của các cá nhân, nhưng đồng thời làm sao để các hành động ngôn luận tự do không xâm phạm đến người khác luôn là một thách thức kép của nền dân chủ.
Các luật sư của Facebook bác bỏ hoàn toàn động cơ kiểm duyệt, và cho rằng không có bất cứ liên hệ nào giữa việc tài khoản nói trên bị đóng và bức họa của Courbet. Tuy nhiên, tập đoàn tin học Mỹ hết sức tránh đi vào tranh luận về « chính sách điều hòa » thông tin của hãng trên mạng xã hội này.
Chính sách kiểm duyệt của Facebook lâu nay bị khá nhiều chỉ trích, đặc biệt về lĩnh vực tranh ảnh khỏa thân. Trong quy tắc sử dụng mới công bố, Facebook cho biết sẽ dành cho mình quyền xóa bỏ các thông điệp cũng như tranh ảnh kích động bạo lực. Về vấn đề khỏa thân, quy tắc là rất rõ ràng : Không được hở vú, hở các bộ phận sinh dục, và mô tả các hành động tình dục. Trừ trong nghệ thuật.
Ông Zuckerberg cho biết đã tuyển thêm 3.000 điều tiết viên, bên cạnh 4.000 người hiện nay. Các luật sư bên nguyên khuyến nghị các điều tiết viên Facebook nên theo học môn lịch sử nghệ thuật, để phân biệt được nghệ thuật với khiêu dâm khác nhau thế nào.
Ngày 15/03 tới tòa sẽ ra phán quyết về vụ này.
Sunday, January 14, 2018
Nguyên Sa (1932-1998)
Nguyên Sa và vợ tại Paris
Thụy Khuê
Những năm 54-60, miền Nam chào cờ phải hát bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống, miền Bắc phải học thơ Bác Hồ, thì ở sân trường miền Nam, học trò tình tự với nhau bằng thơ Nguyên Sa. Cái khác nhau giữa nhà nước và nhà thơ là ở chỗ ấy: Một bên, người ta phải hát, phải học. Một bên khơi khơi đi vào lòng người, không thông hành, không gõ cửa và khi đã đột nhập vào rồi thì dù có tẩy não nó cũng chẳng đi.
Áo Lụa Hà Ðông, Cần Thiết, Tuổi Mười Ba, Paris Có Gì Lạ Không Em… những bài thơ Nguyên Sa đã đi vào giới trẻ miền Nam những năm 60 và ở lại trong lòng người như thế:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng.
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở xung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bầy vội vã vào trong hồn mở cửa.
Gặp một bữa anh mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn
Thơ học trò anh chép lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu.
Em không nói đã nghe từng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt.
Em chợt đến, chợt đi anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Ðể anh gọi tiếng thơ buồn vọng lại.
Ðể anh giận mắt anh nhìn vụng dại
Giận thơ anh đã nói chẳng nên lời
Em đi rồi xám hối chạy trên môi
Những ngày tháng trên vai buồn bỗng nặng.
Em ở đâu hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh mầu áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.
(Áo lụa Hà Ðông)
Nguyên Sa thuộc lớp người muốn canh tân văn học. Cuối thập niên 50, ở Pháp về, hành trang nặng gánh Sartre, Camus, ông dạy triết học trong những lớp luyện thi tú tài, thời ấy gọi là cua riêng. Cua riêng của thầy Trần Bích Lan lúc nào cũng đông nghẹt học trò. Triết học, nơi ông, là triết học xuống đường, thực dụng, triết học bình dân, dễ hiểu, hợp với tạng học trò. Trong lớp, dù là giờ Tâm lý, Ðạo đức hay Triết học hiện sinh, học trò không thể ngủ gật vì những bản thể, những siêu hình, những hư vô, những phương pháp luận… lọc qua lăng kính Trần Bích Lan, đã trở thành những tiếng cười châm biếm Tú Xương… những câu hát đối hóm hỉnh Cầu Lim, Nội Duệ…, Trần Bích Lan đến với tuổi trẻ qua ngả học đường bằng hình ảnh người thầy Tây học, hiện sinh, tài hoa và thơ mộng.
Rồi Thơ Nguyên Sa ra đời. Ra đời trong bối cảnh Mai Thảo giã từ Hà Nội, Vũ Thành mơ giấc mơ hồi hương, Thanh Tâm Tuyền không còn cô độc, Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy hát tiễn em giữa mùa thu Paris. Vũ Khắc Khoan mộng thấy thần tháp rùa. Nhật Tiến bước vào thềm hoang. Vũ Bằng nhớ miếng ngon Hà Nội. Bình Nguyên Lộc ký thác cho đò dọc. Võ Phiến viết chữ tình. Nguyễn Văn Trung đang nhận định, Vũ Hoàng Chương mang tâm sự kẻ sang Tần. Ðinh Hùng lạc trong mê hồn ca…
Hồi ấy, như Nguyên Sa kêu gọi: Chúng ta -tức là những người bạn của ông- không hô hào đổi mới suông. “Chúng ta” phải đánh đổ những người đi trước bằng tác phẩm văn học. “Chúng tôi” muốn đổi mới văn học, tác phẩm của chúng tôi đây, các anh đọc xem có được không? Trước những xông xáo xuống đường của Sáng Tạo, Nhất Linh lên suối Ða Mê tu tiên, Vũ Hoàng Chương khề khà Kinh Kha hề Kinh Kha và Ðinh Hùng miệt mài trên đường vào tình sử, Nguyên Sa hóm hỉnh ném vào sân trường trung và đại học, những hình ảnh bất ngờ:
Hôm nay Nga buồn như con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Ðể anh giận sao chả là nước biển.
(Nga)
Và học trò yêu ngay, chấp nhận ngay. Họ dấu thơ Nguyên Sa trong áo, họ tán nhau bằng thơ Nguyên Sa. Nhưng học sinh, sinh viên không phải là một giai cấp. Ðời sinh viên chỉ có một thời. Ðời sinh viên sẽ chấm dứt như tuổi trẻ. Vậy mà thơ Nguyên Sa ở lại. Tại sao? Bởi vì nó đã tạo được một mốc thời đại.
Nguyên Sa không đổi mới vần điệu. Cũng không làm thơ tự do. Ông vẫn dùng vần điệu của thơ tiền chiến. Thơ ông cũng không sâu sắc gì, ông nói trực tiếp, không ngụ ý hàm ngôn. Ông trải ẩn dụ ra để chúng trở về với thực tế so sánh, đơn giản và dễ hiểu như nói với học trò. Tóm lại, ông đi thẳng vào câu chuyện yêu đương, ở chỗ con trai còn rụt rè chưa dám tán, ông nói phắt hộ:
Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa.
(Cần thiết)
Cái tình ở đây là tình học trò, bồ bịch, Tây gọi là copain, copine, hơn là tình yêu da diết, say đắm, “trưởng thành” trong thơ Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử… Thơ Nguyên Sa dò dẫm, vụng về như tuổi trẻ vào đời:
Chân díu bước mà mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám quay đi
Cả những giờ bên lớp học trường thi
Tà áo khuất thì thầm chưa phải lúc.
(Tuổi mười ba)
Nhưng thơ Nguyên Sa cần thiết và trực tiếp cho thời mới lớn. Cần thiết và trực tiếp cho giai đoạn đổi mới.
Cần thiết vì ở một thời điểm mới, nếu muốn hạ bệ quá khứ tiền chiến của các bậc đàn anh, không lẽ lại vẫn nhai đi nhai lại một hình ảnh người em sầu mộng của Lưu Trọng Lư đã cũ mèm. Mà phải tạo ra một nàng thơ mới, mốt hơn, điệu hơn. Nàng thơ này không thể tìm thấy trong “Liên, đêm mặt trời tìm thấy” của Thanh Tâm Tuyền với những ý thức chạy ngược trong tiềm thức hoang loạn, học trò không hiểu gì cả.
Cũng không thể là “người em” tóc vàng xứ tuyết lên xe tiễn em đi chưa bao giờ buồn thế của Cung Trầm Tưởng. Người em không thể đầm đặc như thế.
Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến không tạo được các người em Biên Hòa, Bình Ðịnh, vì họ không sành thơ.
Nguyên Sa đã tạo được một mẫu người em lý tưởng: người em Bắc Kỳ tóc ngắn, mặc áo lụa Hà Ðông và người em này đã tức khắc thay thế người em ngồi bên cửa sổ của Lưu Trọng Lư trong tư thế văn học và trong lòng người.
Em bây giờ -tức là em những năm 60- phải là em Bắc kỳ di cư. Sau này Nguyễn Tất Nhiên có cóp lại mẫu người em của Nguyên Sa, nhưng hơi muộn. Thời Nguyễn Tất Nhiên, các “em Bắc kỳ di cư” tóc đã điểm sương rồi. Văn học hải ngoại chưa có “người em”. Chả biết “người em Linda mặt ngang” của Ðỗ Kh. rồi có trở thành “người em hải ngoại” chăng?
Sự thành công của mẫu hình người em tóc ngắn, áo lụa Hà Ðông, buồn như con chó đói, như con mèo ngái ngủ của Nguyên Sa không phải là chuyện đùa, nó phản ánh tính cách áp đảo của văn học di cư ở miền Nam, những năm chia đôi đất nước.
Người Bắc di cư, mang theo mỗi người một hình ảnh Hà Nội trong lòng, vào hội họa, thi ca, tiểu thuyết… Những tên tuổi như Nguyễn Gia Trí, Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Nhật Tiến, Mặc Ðỗ, Mặc Thu, Vũ Khắc Khoan, Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Cung Trầm Tưởng… thời 54-60 vẫn còn chưa rũ được hơi hướng Hà Nội của họ. Duy nhất, có Phạm Duy, và cùng lắm Phạm Ðình Chương, vượt trên tính địa phương, làng xóm để tìm đến với tất cả mọi miền, ngay trong những ngày đầu của thời kỳ chia đôi đất nước bằng Tình Ca, Tình Hoài Hương, Con Ðường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, Hội Trùng Dương…
Cho nên, sự thành công của Nguyên Sa là đã vẽ được một người em mới, điển hình cho một thế hệ tình yêu mới, một giai đoạn văn hóa tư tưởng mới.
Sau này khi sang Mỹ, Nguyên Sa cho xuất bản tập Thơ Nguyên Sa II, mượt mà hơn, đầy nhục cảm và đớn đau hơn:
Anh nắm tay cho chặt tiếng đàn
Tiếng mềm hơi thở, tiếng thơm ngoan
Khi nghe tiếng lạnh vào da thịt
Nhớ tiếng thơ về có tiếng em.
(Em gầy như liễu trong thơ cổ)
Nhưng thơ ông không còn được mọi người chú ý đến nữa. Thơ ông đã trở thành cổ điển. Ngày trước ông mở đường, bây giờ ông đoạn hậu. Ðoạn hậu cho một giai đoạn khó khăn, giai đoạn mà những người cũ đã lần lượt ra đi và lớp người mới chưa thật sự thành hình.
Họa sĩ Trần Duy, cựu Thư ký toà soạn báo Nhân Văn nói về Nhân Văn Giai Phẩm – (phần 4)
Họa sĩ Trần Duy
Thụy Khuê
Sau Nhân Văn
– Thụy Khuê: Thưa bác, sau khi Nhân Văn bị đóng cửa thì tình hình sinh hoạt của bác như thế nào? Bác đã làm gì để sinh sống và có nhận được trợ cấp gì không?
– Trần Duy: Sau thời kỳ Nhân Văn thì tôi cũng khổ sở vì con cái, vợ con, cũng có những mâu thuẫn trong gia đình và khi đó tôi thấy trước mắt tôi, ví dụ anh Văn Cao thì buồn đi uống rượu, anh Đặng Đình Hưng buồn, uống rượu, Trần Dần buồn, đi uống rượu, Phùng Quán, trẻ con như thế mà cũng uống rượu, thì tôi cũng sợ. Bây giờ mình không tìm ra được một lối đi, thì phải có một cái dung hòa, vì thế tôi viết thư cho anh Đồng, tôi bảo tình hình như thế, tôi không được vẽ mà không biết vẽ như thế nào. Ông Đồng có viết vào đơn của tôi, gửi về cho ban Tuyên Giáo. Một hôm, tôi được ông Võ Hồng Cương, trưởng ban Tuyên Giáo của Bộ hay gì đó, anh ấy ở Lý Thường Kiệt, gọi tôi đến. Tôi đến, thì anh ấy nằm trên võng, biết tôi đến cũng không ngồi dậy chào, vẫn nằm, hỏi tôi rằng: “Ai cho cậu viết đơn lên Phủ Thủ Tướng?” Tôi bảo: “Chẳng ai cho phép tôi cả, đấy là vấn đề tôi kêu, vì tôi không được làm việc, không được sinh hoạt, hiện nay tôi không có một trợ cấp gì cả thì tôi viết thư hỏi thủ tướng rằng tình hình của tôi là gì, chứ tôi không có tư tình gì với Thủ tướng cả, tôi có viết thư nói là tình hình hiện nay của tôi rất khổ cực, tôi là họa sĩ, tôi theo đảng như thế, tôi đánh trường bay Gia Lâm như thế… mà hiện nay tình hình không ra sao cả.”
Thì ông Đồng viết thư cho ban Tuyên Giáo là nên giải quyết, ban Tuyên Giáo giới thiệu tôi với anh, thì tôi đến anh thôi. Ông ấy hỏi: “Bây giờ cậu còn vẽ được không? Cần vẽ thì có vẽ được không?” Tôi bảo: “Từ xưa đến giờ có bao giờ tôi bỏ vẽ đâu mà tôi không vẽ được”. – “Thế cho cậu về với Nguyễn Bắc ở Sở Văn Hóa được không?” – “Tôi bây giờ cần làm việc chứ chẳng cần biết ở đâu cả.” – “Thế bây giờ lương cậu thế nào?” – “Tôi không có lương. Hiện nay, tôi, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần, Tử Phác, bốn anh em có lĩnh một trợ cấp gọi là trợ cấp đặc biệt của ban Tuyên Giáo, mỗi tháng lúc bấy giờ độ 5 đồng mấy, 6 đồng gì đó. Đấy là khoản chi tiêu đặc biệt không nằm trong ngân quỹ nào cả. Sổ đó hàng tháng, hàng năm, bốn năm người như chúng tôi đến ký nhận, cái đó gọi là tài khoản đặc biệt của ban Tuyên Giáo Trung Uơng chứ tôi không có lương, không có gì cả”. Ông ấy bảo: “Được rồi, cậu về đây có lương tử tế”. Khi đó họ cho tôi lương như cán sự 3, cán sự 4 gì đó, cái thứ cán bộ xã. Tôi bảo thôi được rồi, miễn là tôi có lương là được rồi.
– Thụy Khuê: Thưa bác, như vậy công việc Sở Văn Hóa giao cho bác là phải làm gì? Bác có được vẽ hay phải làm việc khác?
– Trần Duy: Thì khi đó là đang mở một cái công ty mỹ thuật, nó cũng là hoàn cảnh cho tôi để tôi làm affiche, làm đồ họa. Làm đồ họa thì có cái nguy hiểm là anh vẽ quảng cáo cho một công ty, như thế là hội họa phải chạy theo khách hàng, hôm nay yêu cầu vẽ cái này, mai cái kia, một ngày phải làm bao nhiêu affiche theo số nhận của ban chủ nhiệm. Tôi phản đối, tôi bảo nếu hội họa mà bắt tôi sản xuất như máy thì tôi không vẽ được. Tôi có thể vẽ phục vụ chính trị nhưng phục vụ theo chiều hướng đặt đâu vẽ đấy thì tôi không vẽ nổi. Đại khái như thế rồi cuối cùng tôi cũng thôi. Còn một chuyện này nữa: Khi tôi vẽ, thì một hôm tôi cũng nghịch thôi, vẽ một affiche rồi dưới tôi ký TZ, thì khi đưa lên tất cả mọi người xôn xao rằng có thể Trần Duy vẽ cái này chăng? Mấy hôm sau, Hội cử người lên gặp ban chủ nhiệm, đề nghị xóa chữ TZ đi; thì anh Thân Trọng Sự, phụ trách, anh ấy bảo rằng người ta vẽ ký ở một góc như thế… Vẽ affiche quảng cáo không cần tên người ký. Anh Sự nói với tôi: “Thôi đừng ký nó lôi thôi ra cho cậu, cho công ty”. Từ ngày đó tôi biết là tôi không thể làm được việc gì cả rồi và khi tôi về thì cũng không có lương gì nữa.
– Thụy Khuê: Vậy làm sao bác xoay sở để sinh sống được, bác phải làm nghề gì để sống?
– Trần Duy: Thế thì, một hôm bên công an gọi tôi: “Theo ý anh thì bây giờ anh cần gì?” Người hỏi là ông Dương Thông. Tôi bảo: “Tôi không cần gì cả, cho tôi vẽ thôi”. Ông Dương Thông bảo: “Tưởng yêu cầu cái gì chứ việc ấy thì dễ. Anh cần vẽ thì anh cần như thế nào?” – “Tôi chỉ cần được vẽ và người ta sử dụng cái vẽ của tôi”.
Khi đó có Trần Việt Châu, nguyên là công an nhưng bị huyền chức gì đó, cũng mở phòng bán tranh, tôi dựa vào tay này. Tay này bảo tôi rằng: “Anh ký tên khác đi, đừng ký tên đó nữa”. Tôi mới lấy tên con gái tôi là Nhị Hà ký tất cả các tranh lụa nho nhỏ để bán, nhờ tên đó mà tôi sống được đến 5, 6 năm, bán cho những người ở Đông Âu, Nga, Tiệp Khắc, Bulgarie, Hongrie, Nam Tư, v.v… Bán được và người ta cũng mua nhiều tranh. Trong thời gian đó tôi sống nhờ cửa hàng tranh đó. Khi tôi bước vào học nghệ thuật, tôi không nghĩ rằng sau này tôi làm cái nghề, nó là divertissement (giải trí) muốn có cái gì cho vui, agrémenter (điểm trang) cuộc đời mình bằng nghệ thuật chứ không định kiếm ăn bằng nghề này. Cho nên điều đó với tôi vẫn thanh thản lắm cô Thụy Khuê ạ. Với tôi không có gì là ghê lắm, vì tôi không cho đấy là một nghề để sinh sống, nhưng đến bây giờ qua 40, 50 năm rồi, nhờ đó mà tôi sinh sống, tôi hiểu rằng chính nó là nồi cơm của tôi thật. Suốt trong thời kỳ đó, tôi đi triển lãm, vẽ bưu thiếp… tất cả là sinh sống bằng tranh thôi, ngoài ra không sinh sống được bằng cái gì khác. Nhưng tôi biết, tôi không làm giống các anh kia.
– Thụy Khuê: Bác không làm giống các anh kia có nghĩa làm sao ạ? Các anh kia làm gì và tình bạn của bác với họ còn nữa hay đã tan nát hết cả sau vụ Nhân Văn?
– Trần Duy: Nghiã là tôi không tự hủy mình bằng cách uống rượu, bê tha mà tôi phải cố gắng hết sức để tránh vì tôi biết những điều đó có thể đưa đến chỗ không hay. Ví dụ như các anh Đặng Đình Hưng, Văn Cao, Phùng Quán,… các anh ấy buồn, uống rượu. Tôi không. Không làm việc đó. Tôi cũng không chơi với các anh ấy nữa, sau rồi thôi, việc ai người ấy làm, góc tôi tôi sống, không quan hệ gì nữa. Cho nên người ta cho rằng tôi rút lui trong một cái hũ hay trong hốc hang như con chuột nhưng mà sự thật ra thì tôi cũng không muốn cái gì trong cuộc đời tôi nữa. Khi đó -đối với tất cả- le traîte (kẻ phản bội) là tôi. Vì thế cho nên mọi người có thể là rất xa tôi, cũng không ai muốn gần tôi, ngay cả lãnh đạo cũng vậy, đến bây giờ người ta vẫn chưa hiểu tôi là cái gì và người ta cho tôi là một cái thằng bất khả, không chơi được. Mà tôi cũng thấy là không làm sao cả. Năm nay tôi cũng 90 tuổi rồi, không cần chứng minh, giải thích điều gì nữa cả.
– Thụy Khuê: Thưa bác, trong số những người bạn đồng hành của bác, có hai người mà bác còn giữ một cảm tình rất đặc biệt cho đến bây giờ, đó là Phan Khôi và Nguyễn Hữu Đang. Tại sao vậy?
– Trần Duy: Tôi có nói rằng: có hai người làm báo mà tôi phục nhất là Nguyễn Hữu Đang và Phan Khôi. Ông Phan Khôi khi tôi viết Tiếng Sáo Tiền Kiếp, thật ra là để chống cái chỉnh huấn, chống chuyện bắt mọi người từ bỏ dĩ vãng của mình, thì Tiếng Sáo Tiền Kiếp không khác hơn là cái reminiscence của con người, bây giờ muốn bỏ quá khứ đi thì bỏ như thế nào? Muốn đeo nó lên thì đeo thế nào? Ông Phan Khôi bảo tôi rằng cái đó thì được nhưng tôi hỏi anh nếu ôm cái quá khứ đó thì anh phải giải quyết nó như thế nào? Anh không giải quyết mà chỉ đưa vấn đề ra thì không được. Ông ấy bàn với tôi, tôi bảo: “Chính cháu viết thế thôi chứ cháu không hiểu phải giải quyết thế nào đâu bác ạ.” Ông Phan Khôi cười bảo: “Thế bỏ lửng à!” Đại khái như thế, thì thôi bỏ lửng chứ tôi không giải quyết. Thật ra, vì ông Tố Hữu ông ấy cứ nói đi nói lại mãi câu của Mao Trạch Đông: “Trí thức không bằng cục cứt, vì cục cứt nó còn có ích, người ta bón ruộng. Trí thức các anh ngồi mát ăn bát vàng không bằng cục cứt.” Vậy thì, ông Phan Khôi ông ấy cho rằng: nếu trí thức như cục cứt thì trí thức nó đi đến đâu? Giải quyết như thế thì anh giải quyết cái gì? Ích lợi của trí thức nó thế nào? Vậy lớp học này toàn là cục cứt cả à? Vì thế vai trò của Phan Khôi trong đời tôi cũng có điều làm tôi suy nghĩ.
– Thụy Khuê: Nguyễn Hữu Đang cũng là một người mà bác rất kính trọng phải không ạ?
– Trần Duy: Vâng, Đang là một người rất đáng trọng. Đang là một người, nói cách khác là c’est un penseur qui se respecte Đang không phải là người vớ vẩn. Đang là một người có tư tưởng. Đang là một người có tư cách. Cho nên khi Nhân Văn làm thì đúng là tất cả cái mouvement đó là của Đang chứ không phải của Lê Đạt. Tôi đã nói là có hai người làm báo mà tôi phục nhất là Nguyễn Hữu Đang và Phan Khôi. Vì Nguyễn Hữu Đang viết giỏi lắm, chữ chặt chẽ, không lọt một sơ xuất nào trong hành văn của Đang. Cho nên bài trả lời Nguyễn Chương ấy, cô đọc kỹ lại mà xem, bài viết giỏi vô cùng, nó rành mạch, nó rõ ràng từng khu, từng khúc, không xô bồ. Đang là người giỏi. Tôi chụp rất nhiều ảnh Đang, bây giờ tôi vẫn còn giữ những ảnh trước khi Đang chết. Đối với tôi, Đang là một người tôi trọng, tôi rất trọng. Cô có biết thời kỳ Đang bị quản thúc, chưa bao giờ ai sống mà lại có cái dignité (sự tự trọng) như thế bao giờ. Cô cứ thử tưởng tượng mà xem, không có cái gì ăn, anh ấy gửi tất cả những cái chậu cho các hộ ăn tập thể khi người ta vo gạo, anh chắt lấy nước ấy anh quấy anh ăn. Thứ hai là anh ấy lên Hà Nội xin tất cả các họa báo của Liên Xô về anh đổi cho trẻ con, để lấy cóc, lấy dế ăn cải thiện. Thán phục anh ấy vô cùng. Tội ghê lắm. Chị có biết không, anh ấy đi nhặt tất, tất cả các thứ tất rách rưới của tất cả mọi người, về đưa cho vợ Phùng Cung, anh ấy bảo: “Cô hấp rồi cô giặt cho tôi, cái nào rách cô vá lại cho tôi, tôi đi”. Tất cả cuộc đời anh ấy chỉ có một cái xe đạp, tàn tạ đến độ không thể ai nghĩ đấy là cái xe có thể đạp được, vậy mà anh vẫn viết, dán ở xe đạp: Tôi chỉ có cái xe đạp này làm vốn, nếu tôi chết thì cái xe đạp này tôi tặng cho thằng cháu tôi. Đại khái như thế. Nguyễn Hữu Đang là người có nhân cách. Vì thế cho nên Nguyễn Hữu Đang là con người, cô phải nhớ là khi Nguyễn Hữu Đang đến, Tố Hữu làm như kẻ cả, ban ơn, vỗ vai Đang, Đang nó lấy tay nó hất đi. Đang nó có dignité lắm cô ạ.
– Thụy Khuê: Thưa bác, bây giờ nhìn lại hoạt động của Nhân Văn Giai Phẩm, có điều gì bác muốn nói thêm nữa không?
– Trần Duy: Đứng về xã hội, về con người thì trách nhiệm rất lớn vì nó đẩy một số trí thức vào cuộc. Ví dụ Đặng Văn Ngữ, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường… là những người trí thức, thực tâm không có ý đồ xấu. Anh Nguyễn Mạnh Tường không có gì xấu cả. Anh Đào Duy Anh, nhất là anh Đặng Văn Ngữ là một nhà bác học, không có gì xấu. Tôi rất ân hận là đã đưa họ vào Nhân Văn vì họ quen với tôi. Ông Đào Duy Anh quen với tôi, Đặng Văn Ngữ quen với tôi, Nguyễn Mạnh Tường quen với tôi mà tôi đưa họ vào. Một lần anh Đặng Văn Ngữ hỏi tôi: “Thực ra các ông là cái gì? Nhân Văn là cái gì? Anh nói thật với tôi đi, giữa tôi và anh, anh nói thật đi, có gì quan hệ với ngoại quốc không?” Tôi trả lời: “Nó chẳng có gì cả anh ạ, nó là cuộc Cải Cách Ruộng Đất lần thứ hai trong giới văn nghệ thôi, vì tôi không biết Tây, Tàu và cũng không định đưa các anh vào chỗ chết đâu, chính bản thân chúng tôi đang chết”. Đại khái như thế.
– Thụy Khuê: Nếu bây giờ làm lại tờ Nhân Văn thì bác có làm nữa không?
– Trần Duy: Cười – Một là bây giờ không còn, không còn sức lực để làm nữa. Hai là bây giờ báo chí cũng không nên làm cái gì cả, tôi hiểu báo như thế nào rồi. Báo là một thứ tiếng nói của đảng, báo là tiếng nói của chính trị, báo là tiếng nói của cách mạng. Anh ra một tờ báo để anh nói thật cái gì thì khó lắm. Thì khó lắm. Đến những người to lớn như những ông Kiệt v.v… đứng ra làm một tờ báo chưa chắc đã được, huống gì bọn mình. Ra để làm cái gì? Ra nói cái gì? Nếu bây giờ có ra lại được một tờ báo, bản thân tôi không bao giờ làm lại một tờ báo như thế cả. Ngay bây giờ tôi có viết một số bài vở, sắp ra một quyển sách, nhưng tôi cũng không nghĩ là quyển sách ấy có thể xuôi lọt được, huống chi là tờ báo. Tờ báo bây giờ phải là báo cách mạng. Báo bây giờ là báo tiếng nói của đảng, báo tiếng nói của nhân dân v.v… Mình ra tờ báo thì mình nói cái gì bây giờ? Có đúng như thế không? Cho nên nói rằng vui thì có cái vui, buồn cũng có cái buồn. Cái gì trong cuộc đời cũng dở dang, con người mình cũng dở dang, năm nay 90 tuổi rồi, không biết mình đi đúng hay mình đi sai, mình đi đúng thì mình sống đến 90 tuổi, mà mình đi sai thì đã chết từ năm 50 tuổi rồi. Bây giờ đi đến 90 tuổi rồi thì cũng không biết con đường đã đi là con đường nào. Ai ghét mình? Ai yêu mình? Mình nên yêu ai, nên ghét ai? Thực tế ra sống đến chừng này tuổi tôi không nghĩ là tôi ghét ai cả, nhưng yêu ai thì cũng rất khó.
– Thụy Khuê: Thưa bác, trước khi chia tay, bác có điều gì muốn gửi gấm đến thính giả, đến giới trẻ không, xin bác nói ra.
– Trần Duy: Nhiều thứ nói lắm. Bây giờ trong đầu tôi có nhiều thứ để nói lắm. Mà nói thì có nói được hay không? Nói lúc nào? Nói thời nào? Nói vấn đề gì? Nhiều vấn đề lắm. Có những cái mình cũng phải tự hạn chế mình trong những điều mình nói. Không phải mình sợ, nhưng mình có nói được không? Nói có tác động hay có ích lợi gì không? Và nên nói như thế nào? Cái buồn của tôi là cái buồn đó. Vì thế cho nên cái vẽ của tôi là vẽ để quên đi cái gì đó, cũng để cho có việc làm. Việc làm đẹp, không xúc phạm đến ai cả. Ví dụ tôi vẽ người thiểu số, vẽ cây, vẽ cành, vẽ đền chùa… Bây giờ thì vẽ đền chùa cũng không được rồi, tại vì bây giờ người ta cải tạo lại, người ta làm lăng nhăng không thể vẽ được. Ngày xưa có những chùa đẹp, còn những gì cổ kính, bây giờ chỗ nào cũng sơn son thếp vàng, ngay những ông tượng trong chùa bây giờ cũng vàng chóe ra, cho nên bây giờ cái khủng hoảng của anh em là người ta vẽ đủ các thứ, người ta xếp đặt, … nhưng thực ra, vẽ thì không biết vẽ cái gì, phố cổ thì không còn nữa, nhà cửa mọc lên dở dở dang dang, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu. Những nhà cổ, chùa cổ, bây giờ sơn son thếp vàng, người ta làm mới hết cả rồi, cũng không vẽ được. Cái khủng hoảng của họa sĩ bây giờ là vẽ cái gì? Vẽ như thế nào?
– Thụy Khuê: Xin thành thật cảm ơn họa sĩ Trần Duy.
Họa sĩ Trần Duy, cựu Thư ký toà soạn báo Nhân Văn nói về Nhân Văn Giai Phẩm – (phần 3)
Họa sĩ Trần Duy
Thụy Khuê
Nội bộ báo Nhân Văn
– Thụy Khuê: Thưa bác, trên báo Nhân Văn có một số tên viết tắt không biết là ai, ví dụ như bác, ngoài tên Trần Duy và Y Du, bác còn ký những bút hiệu nào khác nữa?
– Trần Duy: TD này, Trần Duy này, chỉ có ba tên đó thôi, tranh tôi vẽ vẫn đề là TD.
– Thụy Khuê: Còn người ký Trần Y Du là ai?
– Trần Duy: Cũng là tôi.
– Thụy Khuê: Pha Y là ai?
– Trần Duy: Là Phái. Phái có vẽ mấy bức tranh chụp mũ hay gì đó>
– Thụy Khuê: XYZ là ai ạ?
– Trần Duy: Có thể là Đang, vì trong tòa soạn chỉ có tôi, Đang và Đạt. Anh em ở ngoài thì họ để tên thật. Còn những mục thay thế hoặc lấp chỗ trống, có thể là Đang, có thể là Đạt, có thể là tôi.
– Thụy Khuê: Thế XYZ là Tổ Ba Người phải không ạ?
– Trần Duy: Không, XYZ là một người thôi. Có thể là Đang, có thể là Đạt, gọi là mục để lấp chỗ trống, không quan trọng. Nếu quan trọng thì viết tên rõ ràng. Thật ra lúc bấy giờ nó như cái chợ trời, không ai quyết định được ai cả, nó cứ quân hồi vô phèng, nó không thành một tổ chức quy mô nào cả, cho nên người ta cứ bảo người này, người kia là công an cài vào; thực ra công an chẳng cần cài, người ta cứ đứng ngoài đường nghe cũng biết tình hình như thế nào rồi; việc đó không có gì bí ẩn, bí mật cả, tất cả gặp đâu nói đó, chứ không thành một tổ chức chính trị gì cả.
– Thụy Khuê: Thế, Tổ Ba Người là ai ạ?
– Trần Duy: Tôi không nhớ có cái tên này.
– Thụy Khuê: Thưa bác, còn những bài ký tên Người quan sát là Lê Đạt hoặc Nguyễn Hữu Đang phải không ạ?
– Trần Duy: Vâng. Còn ký tên Y Du là tôi.
– Thụy Khuê: Tranh cũng là việc chính của bác, vậy trong thời kỳ ấy bức tranh nào đã gây ấn tượng mạnh nhất và đã làm cho bác bị lôi thôi nhất?
– Trần Duy: Tôi có vẽ một bức tranh, có lẽ đó là hậu họa lớn nhất trong đời tôi, là Ốc sên không cánh mà bay trong tờ Giai Phẩm Mùa Xuân, chính bức tranh chết của tôi đó, nó là cái họa lớn trong đời tôi. Nó không phạm ai cả ngoài những người cơ hội, mà ở trong đảng thì cô Thụy Khuê biết – cười… Cơ hội là chính! Thực ra đảng viên mà chết được như… mấy ông đảng viên -chân chính- mới là hay. Cho nên Sáng nó có vẽ một bức tranh mà không ai hiểu được là Kết nạp đảng, tranh đó mới là cái chất của Sáng. Sáng bảo: “Tao không bao giờ coi thường đảng viên, nhưng đảng viên kết nạp ở đâu, chứ đảng viên kết nạp ở văn phòng, ăn sung mặc sướng thì đảng viên làm gì, đảng viên phải chết ngoài mặt trận, phải thừa sống ra chết tao mới phục”. Tranh ấy gây xao động một lúc nhưng thực ra không ai hiểu được tư tưởng của Nguyễn Sáng, cho nên bức tranh Kết nạp đảng, cô Thụy Khuê có thấy không, phải ở mặt trận, ở tiền tuyến, thì giá trị của người đảng viên mới có. Còn không thì tất là đều là cơ hội. Khi tôi vẽ Ốc sên không cánh mà bay thì tôi biết là tôi đưa đầu vào máy chém rồi.
– Thụy Khuê: Về sáng tác, khi viết những truyện như Người khổng lồ không tim và Tiếng sáo tiền kiếp là bác có ý gì? Bác cũng chính trị lắm đấy chứ?
– Trần Duy: Người khổng lồ không tim không phải tôi nói là người đảng viên không tim. Người đảng viên là người khổng lồ, trong số những người khổng lồ đó có người không tim chứ không phải là người khổng lồ nào cũng không tim cả đâu. Vì ở trong đó cũng có Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng là cụ Hồ, Nam Tào Bắc Đẩu… tất cả là những ông trung ương tốt, bên cạnh đó có những ông trung ương xấu. Vậy ở trong tập thể đó có những người tốt, có những người xấu. Còn Tiếng sáo tiền kiếp, nó được đẻ ra sau thời kỳ chỉnh huấn: Con người ta ai cũng qua cuộc đời cũ cả, đến lúc đó bắt tôi bỏ cuộc đời cũ đi nhập vào cuộc đời mới, thì liệu có làm được không? Thành thử Tiếng sáo tiền kiếp… là cái ray rứt của con người, muốn đi đến bỏ cái cũ nhưng bỏ như thế nào, bỏ làm sao, mà cái divorce như thế rất khó, thành thử chính Boudarel đã nắm được nội dung truyện đó. Ông Nguyễn Đình Thi, ông Đồ Phồn bảo: “Nó là thằng phản động từ xương từ tủy”, đại khái như thế. Tôi bảo tôi chẳng có gì là phản động ở trong ấy cả, nếu có phản động chăng thì là như thế này: tôi không thích một cái đảng chính trị nào cả -đấy là cái phản động lớn nhất đấy- không riêng một cái đảng nào, đảng nào cũng thế thôi. Nếu có cái đảng nào gọi là đảng quân chủ, thì tôi cũng không theo, mặc dù bố mẹ tôi là dòng dõi con nhà vua. Nói chung là tôi không thích một cái đảng nào cả, và đến bây giờ tôi cũng không tán thành một đảng nào cả và bản thân tôi cũng không thích vào một đảng nào hết, có chăng là sự bảo vệ con người trong một cộng đồng nào đó, mục đích chính của tôi vẫn là yêu cái đó. Đừng gây xáo trộn lớn, hiện nay đất nước mình xáo trộn nhiều quá, xáo trộn về ngôn ngữ, về chữ nghĩa, về chữ quốc ngữ,… Tôi có nói với anh em rằng ngay tiếng Pháp, đứng về pháp cú, grammaire vẫn có vấn đề mà tại sao từ mấy trăm năm nay người ta vẫn để nguyên, có những cái không hợp lý mà họ vẫn để, ví dụ những thay đổi từ al sang aux, từ ou thêm x vẫn có những exceptions, những cái không hợp lý người ta vẫn để từ mấy trăm năm nay. Vậy tại sao mình luôn luôn thay đổi, cải cách. Nếu hòn sỏi mà cứ lăn mãi thì không bao giờ dính vào đâu được. Cái đất nước mình cứ luôn luôn thay đổi, cải cách, cải tạo, rốt cuộc không bao giờ đứng được một chỗ nào. Riêng tôi, không bao giờ tôi vào một cái đảng nào cả. Cái đảng chính của tôi vẫn là đảng con người thôi.
– Thụy Khuê: Thưa bác, cụ Phan Khôi viết bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ khá mạnh, vậy có thể nói là cụ Phan Khôi có một vai trò quan trọng gì trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm không?
– Trần Duy: Ông Phan Khôi, cái người mà ông ấy chống nhất là Nguyễn Đình Thi, ông cho Nguyễn Đình Thi là người lũng đoạn trong đó và ông cho rằng, tất cả những người như Tô Hoài,… cho nên ông Phan Khôi chỉ chống những người trong ban lãnh đạo văn học nghệ thuật thôi, chống lại sự lũng đoạn trong những cái giải chấm, ở trong văn học nghệ thuật. Anh em cũng không yêu cầu gì cả và ông cũng không có quyền hạn gì cả. Ông không quyết định gì hết: bài vở ông không quyết định vì bài vở là đưa qua Lê Đạt, Lê Đạt đưa cho tôi và chính tôi là người mise, trình bày tờ báo. Thiếu thừa chỗ nào thì tôi nói với anh em thêm cái này cái nọ. Cái mục remplissage là tôi làm chứ không phải ai làm cả. Mise tờ báo lên cho tờ báo chạy là tôi. Tiếp xúc với nhà in là tôi.
Vai trò Phan Khôi trong báo Nhân Văn không có gì cả. Ông không là chủ động, không chỉ đạo, ông không có ảnh hưởng trong tờ báo. Có ảnh hưởng trong tờ báo có mấy người: Văn Cao là ngầm rồi, Trần Dần, Hoàng Cầm đi vào một nhánh rồi, Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang. Còn số mà tập họp những anh em khác, tất cả bài vở… thành phong trào như Đất Mới… là do ảnh hưởng của Nhân Văn rồi nó đẻ ra những người cộng tác chứ không phải là những người cộng tác nằm đầu tiên trong nhóm chỉ đạo của Nhân Văn, là hai người chủ chốt, hai cái đầu đấy, một người là đường lối tư tưởng, một người đường lối chính trị, mà Lê Đạt là người điều chỉnh, gọi là cái phanh ấy, cái thắng đấy, khi nào đi quá thì chính Lê Đạt cũng kêu và chính Lê Đạt là người chống Nguyễn Hữu Đang và chính Lê Đạt có nói với tôi: “Tất cả những bài vở mày đừng đưa cho thằng Đang trước và thằng Đang có bài gì thì mày đưa cho anh em xem trước, mày đừng tự động cho lên”. Chính Lê Đạt bảo tôi như thế, vì thế cho nên cái bài Nguyễn Chương ấy, ông Phan Khôi ông ấy phản đối ghê lắm.
– Thụy Khuê: Bác muốn nói đến bài Trả lời Nguyễn Chương của báo Nhân Dân trên Nhân Văn số 2 phải không ạ? Bài ấy ký tên ba người nhưng do ai viết?
– Trần Duy: Bài ấy là Đang viết đấy chứ. Vì nói thực với cô Thụy Khuê là có hai người trong nước Việt Nam làm báo mà tôi phục nhất, Nguyễn Hữu Đang là một, Phan Khôi là hai. Báo chí viết rành mạch, rõ ràng. Nhất là Đang viết giỏi lắm, cho nên cái bài ấy, cô đọc lại mà xem, nó mực thước lắm, đúng là bài về polémique, phải nói là thầy về polémique, phân tích rõ ràng. Đang viết bài đó và bảo: “Bọn mày đứng hộ tao”. Thì mấy người, tôi, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần đứng. Sau ông Phan Khôi gọi tôi bảo: “Thực ra bài đó ai viết? Các anh làm báo thế các anh chết, tất cả là những người có tên có tuổi mà lại mượn tên người khác, ông Đang viết một bài như vậy tại sao không dám đứng tên mà lại để tên các anh?”
Sự thực thì Nguyễn Hữu Đang viết bài đó rất hay, bài đó trả lời Nguyễn Chương, không phải bốn người kia viết, ông Đang viết, vì thế khi ông Phan Khôi phát hiện ra, ông ấy mắng tôi: “Anh làm thư ký tòa soạn mà làm như thế rất nguy hiểm”. Ông Phan Khôi hay mắng tôi lắm.
– Thụy Khuê: Thưa bác, trên báo Nhân Văn còn có một bút hiệu nữa là Trần Công, vậy Trần Công có phải là Trần Duy không ạ?
– Trần Duy: Trần Công không phải là Trần Duy. Ông Đồng gọi tôi lên Phủ Thủ Tướng để bàn về việc có nên ra nữa hay không và tất cả việc đó nên thu xếp thế nào thành một yêu cầu nội bộ chứ đừng thành một cuộc đấu tranh, thì tôi cũng nhận lời và tôi cũng xem như thế là đúng. Khi tôi về báo cáo điều đó thì anh em có vẻ bất bình, cho rằng tôi đầu hàng chính phủ và đầu hàng ông Đồng, họ cho rằng như thế là tôi phản bội anh em, bán đứng anh em, thành ra định đưa Trần Công thay thế, khi đó gây cho ông Phan Khôi một phản ứng rất lớn, ông cho rằng anh em làm việc với nhau vì tình nghĩa chứ có phải vì quyền lợi gì đâu mà làm như thế, ông có nói rằng nếu Trần Duy không làm nữa thì ông cũng không nhận trách nhiệm gì nữa cả, do đó mà sau rồi cũng thôi, không tiến hành nữa. Vậy thì Trần Công không phải là Trần Duy.
– Thụy Khuê: Chuyện này khá quan trọng, nó cũng là đầu mối của sự chia rẽ giữa bác và các anh em trong báo Nhân Văn, vậy xin bác thuật lại đầu đuôi, bác lên gặp thủ tướng Phạm Văn Đồng ở giai đoạn nào của tờ Nhân Văn?
– Trần Duy: Tôi gặp anh Phạm Văn Đồng, ông Đồng gọi tôi lên, khi đó là số 3 rồi. Bắt đầu số 3. Khi đó có những tin đồn là Nhân Văn muốn ngả về những mouvement, những phong trào đòi dân chủ ở Hung hay là ở Nam Tư gì đó, thì anh Đồng có cho gọi ban biên tập và tòa soạn lên, cuối cùng anh em bảo Trần Duy lên gặp, thì tôi lên. Việc tôi lên gặp ông Đồng cũng có một số anh em tán thành, một số không tán thành, cho rằng như thế là tự mình ràng buộc với… chính quyền. Nhưng tôi nghĩ rằng anh không thể nào vượt chính quyền được và anh không thể nào vượt khỏi tổ chức của đảng được, không thể chống lại được nó, làm cái gì cũng phải nằm trong cơ sở tổ chức của đảng thôi. Tôi lên gặp ông Đồng. Thái độ của ông Đồng rất cởi mở, gặp tôi bảo: “Tôi hiện nay rất bận, bao nhiêu khách đang chờ tôi bên Phủ Chủ tịch cho nên tôi cũng nói qua để anh biết rằng tôi ủy cho anh Phan Mỹ thay tôi để giải quyết những vấn đề gì của anh em còn vướng mắc, theo tôi thì đừng nói chữ đấu tranh, các anh cần gì, yêu cầu gì, các anh cứ việc đề ra và chúng tôi giải quyết chứ đừng đấu tranh, đòi hỏi cái gì mà phải đấu tranh”. Ông Đồng quay sang nói với anh Phan Mỹ: “Hiện nay tôi phải sang họp, anh ở đây gặp các anh ấy, có vấn đề gì các anh đề xuất mà anh có thể giúp được thì anh cứ giúp”. Ông Đồng đi thì tôi ngồi nói chuyện với anh Phan Mỹ một thời gian, anh Phan Mỹ bảo: “Các anh cần gì, vấn đề tài chính thì tất nhiên chính phủ làm được việc đó, các anh cần mua giấy thì chúng tôi cấp giấy cho các anh mua”.
Xong việc ấy tôi về gặp anh em ở một cái quán nhỏ đầu Hàng Nón, mọi người ở đấy, có Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, … và tôi. Một lúc thì Đang đến, tôi nói chuyện tôi gặp như thế thì tất cả mọi người trừ Lê Đạt, đều cho rằng thái độ của tôi là thái độ đầu hàng. Ông Phan Khôi có hỏi một câu: “Mình đánh ai mà mình đầu hàng?” Đó là câu ông hỏi anh em, ông cho rằng anh em làm việc với nhau vì tình nghĩa chứ không phải vì quyền lợi gì đâu mà làm như thế. Sau đó ông Phan Khôi hỏi tôi: “Anh gặp ông Đồng thì ông có nói gì không?” Tôi nói: “Ý ông Đồng là tất cả những điều yêu cầu về báo chí, về văn học nghệ thuật, thì nên đề đạt chứ đừng nói chuyện đấu tranh”. Khi đó tôi có nói với anh Lê Đạt, Lê Đạt bảo: “Khổ lắm, việc này là do ông Đang, ông Đang lúc nào cũng quá khích và cần làm to lên”. Thì khi đó, thực ra cũng nói với cô Thụy Khuê rằng, ông Đang ông ấy bảo: “Không sợ gì cả! Vì đã có hội nghị quốc tế, có tất cả các thứ… và lãnh đạo không dám làm gì đâu!” Vì thế anh em Nhân Văn ở trong một cái thế tiến lùi cũng rất khó và khi đó, bản thân tôi thấy cũng rất nguy hiểm. Khi đó ông Song Hào có cho ông Mặc Ninh đến nhà tôi, Mặc Ninh nói câu này: “Anh Song Hào dặn tôi nói với cậu rằng làm gì thì làm nhưng cậu phải đề phòng, nếu anh em cán bộ tập kết nêu khẩu hiệu biểu tình rằng chính các cậu là người phá hoại phong trào đoàn kết, phong trào tập kết thì các cậu sẽ ở vào một thế rất nguy hiểm, cho nên anh Song Hào dặn tôi nói với cậu là làm đến đâu thì suy nghĩ cho kỹ chứ đừng đẩy đến chỗ bế tắc là nguy hiểm lắm đấy”.
– Thụy Khuê: Sau đó bác đã quyết định như thế nào, và nội bộ Nhân Văn đi đến đâu? Xin bác cho biết về Nhân Văn số 6, số bị chính quyền chận lại và sau đó Nhân Văn bị đóng cửa hẳn.
– Trần Duy: Xong số 3 thì tôi chuẩn bị mấy số sau, tôi chuẩn bị cái affiche về Ba Lan thì chính tôi lên tiếp xúc với sứ quán Ba Lan, họ cho tôi tất cả tài liệu, affiche, tranh ảnh về Ba Lan và tôi đang định làm số đó. Nhưng sau vụ tôi lên gặp ông Đồng ấy, thì ông Đang ông đùng đùng ông tự động thay đổi. Lê Đạt cũng bảo cái chuyện mà Đang lên nhà in tự động thay đổi nội dung rất là nguy hiểm. Thì rồi xẩy ra việc mà bên công an can thiệp, nhưng không can thiệp đến ban biên tập, không can thiệp đến người, chỉ đình số báo lại và không cho phát hành. Nếu số báo ấy ra thì chưa biết tình hình sẽ đi đến đâu. Tất cả số báo đó tôi hoàn toàn không biết, tôi không biết nội dung như thế nào cả và tôi cũng chưa thấy nó vì người ta chặn ngay khi nó đang sous presse, đang còn in và không cho phát hành, như thế số báo ấy tôi không nắm được và tôi không biết nó như thế nào cả. Có những việc không bàn với tôi mà nó thành vấn đề thì chuyện đó tôi không chịu trách nhiệm. Tôi hoàn toàn không biết. Tôi định ra affiche Ba Lan, về văn học và hội họa Ba Lan, chứ tôi không viết về chính trị, nếu người ta hỏi tôi thì không phải là tôi phủi tay nhưng vì tôi không biết thành ra tôi không nhận nó. Chính Lê Đạt là người bảo tôi rằng: “Cậu đừng nghe lời thằng Đang vì thằng Đang nó quá tả trong những vấn đề này, cậu nhớ rằng mục đích chính của chúng mình là đi vào văn học nghệ thuật chứ không phải đi vào đấu tranh chính trị”. Còn những người ném đá giấu tay… thì ở trong đó có nhiều lắm. Nhưng thực ra Lê Đạt, tôi vẫn công nhận, Lê Đạt dù sao chăng nữa vẫn là đảng viên, là người từ Bộ Chính Trị, từ ông Trường Chinh mà đi xuống, thành thử Lê Đạt nó cũng có cái ngại của nó mà không dám làm quá, khi nào nó cũng ở một tư thế chính trực hoặc rất cân bằng, nó không như Đang. Sự thật Đang là người có tư tưởng chứ không phải là người bơ vơ như Hoàng Cầm hay Trần Dần đâu. Đang nó có tư tưởng. Đang có chủ trương chính trị rõ ràng, vì thế cho nên Lê Đạt rất ngại Đang và khi nào Lê Đạt gặp Đang là cũng cãi nhau. Ông Phan Khôi hay chép miệng thở dài: “Tôi cứ tưởng các anh gặp nhau, thống nhất với nhau rồi làm việc, chứ tôi thấy các anh cứ gặp nhau cãi nhau thế này thì không nên làm cái gì cả”
Hoạ sĩ Trần Duy, cựu Thư ký toà soạn báo Nhân Văn nói về Nhân Văn Giai Phẩm – (phần 2)
Hoạ sĩ Trần Duy
Thụy Khuê
Làm thư ký toà soạn báo Nhân Văn
– Thụy Khuê: Thưa bác, xin bác nhắc lại việc bác quen cụ Phan Khôi trong lớp Chỉnh huấn ở Việt Bắc như thế nào?.
– Trần Duy: Khi ở Huế tôi nghe tiếng ông Phan Khôi, nhưng đến khi vào học lớp chỉnh huấn thì tôi mới biết ông Phan Khôi. Lớp đó là lớp đầu tiên. Tôi có biết lớp đó đâu. Sở dĩ tôi học lớp đó, một phần là do anh Tô Ngọc Vân giới thiệu. Anh Vân viết cho tôi một cái thư bảo: Anh có tranh hay không để dự triển lãm và có lớp học, anh nhớ liên lạc với Tổng Bộ Việt Minh, về học cho vui. Vì đi học cho nên tôi mới biết ông Phan Khôi, người ta xếp tôi cùng tổ của ông Phan Khôi. Tôi còn nhớ tôi vào tổ đó cùng với Đào Duy Dếnh là Đào Phan với Nguyễn Tử Nghiêm và mấy người nữa. Đó là lần đầu tiên tôi biết và tiếp xúc với ông Phan Khôi. Qua trình bày lý lịch, ông Phan Khôi bảo: “Ủa, thế gia đình nhà anh là dòng Thọ Xuân Hương với lại Gia Hưng à?” Tôi bảo: “Vâng, Gia Hưng là bên bà cố tôi”. Ông hỏi: “Nhà anh thuộc dòng Minh Mạng hay Thiệu Trị?” Tôi bảo: “Chính thuộc về Thiệu Trị đấy ạ”. Ông và tôi nói chuyện, và qua câu chuyện ông làm quen với tôi, do đó ông thân với tôi và tôi thấy ông yêu tôi, tôi cũng quý ông.
– Thụy Khuê: Thưa bác, trong trường hợp nào bác đã quen với nhóm chủ trương báo Nhân Văn?
– Trần Duy: Nhân Văn à? – cười– Nhân Văn, thật ra tôi không quen anh Lê Đạt, tôi biết anh Lê Đạt khi anh về phụ trách báo Văn Nghệ. Đáng lẽ người ta cho Nguyễn Hữu Đang nhưng người ta để Lê Đạt về đấy cùng với Nguyễn Hữu Đang phụ trách Văn Nghệ. Tôi không biết Trần Dần, tôi cũng không biết Hoàng Cầm. Mãi sau khi họp ở 51 Trần Hưng Đạo, đưa bài Nhất định thắng của Trần Dần -hôm đó là cuộc hội rất lớn- kết tội bài đó. Tôi với ông Phan Khôi ngồi gần nhau, hôm đó tôi không biết Trần Dần, ông Phan Khôi nói với tôi: “Thật ra bài đó chẳng có gì hay nhưng nó phạm thượng, tại vì nói đến màu cờ trong một đêm mưa, không có hướng đi lên, bài đó bị đánh vì thế”. Thứ hai, bài thơ nói đến em, là em nào? Người ta quy rằng Trần Dần như thế là ngã về địch, bị gián điệp. Ông Phan Khôi bảo: “Làm gì có thứ gián điệp gì mà nhanh thế, gián điệp nào mà rõ ràng thế? Gián điệp thì phải tổ chức quy mô, có bài có vở, chứ tổ chức gì lạ kỳ thế. Anh tìm thử xem cô này là cô nào, có thật là gián điệp không”.
Khi đó mình cũng là thanh niên, nghe ông Phan Khôi bảo thế tôi cũng tò mò, tôi lên gần nhà thờ Tin Lành, ở đó tôi nghe nói là có một cái crèche, như là nhà trú ban đêm cho những người tàn tật, người già. Cô Khuê là một trong những người mà nhà thờ Tin Lành dùng, một là để dạy, hai là trông nom cái nhà đó. Tôi nghe như vậy thôi, tôi về nói với ông Phan Khôi: “Cô này là giáo viên, hiền lành, không phải là gián điệp”. Ông Phan Khôi cũng nói với tôi: “Quy cho người ta là gián điệp, là chính trị, nhanh quá, không nên quy nhau như thế rất nguy hiểm; anh em vừa ở kháng chiến về, chưa hiểu đầu đuôi mà tự nhiên chụp cho nhau cái mũ gián điệp như thế rất nguy hiểm”. Vì thế cho nên tôi không quen biết những người này nhưng vì ông Phan Khôi, tôi đứng trên quan điểm của ông Phan Khôi, tôi rất ủng hộ ông Trần Dần mà tôi không biết ông Trần Dần là ai cả. Tôi cũng không biết ông Hoàng Cầm. Tôi biết anh Lê Đạt vì tôi cùng về báo Văn Nghệ, tôi phụ trách in cho Đại Hội Văn Nghệ, những cái tranh múa sạp, gì gì đó, vì thế mà tôi biết anh Lê Đạt rõ ràng. Do ông Phan Khôi tôi biết nhóm Lê Đạt và Trần Dần.
– Thụy Khuê: Từ việc có cảm tình và ủng hộ nhóm chủ trương báo Giai Phẩm Mùa Xuân đến việc làm thư ký tòa soạn cho báo Nhân Văn cũng khá xa, vậy thưa bác trong hoàn cảnh nào bác đã nhận lời làm thư ký tòa soạn báo Nhân Văn?
– Trần Duy: Một hôm ông Phan Khôi rủ tôi đi chơi, khi đi lên đường Phan Chu Trinh bây giờ, ăn phở. Ăn xong đi ra, thì thấy bọn Minh Đức và tất cả mọi người tụ tập ở gần cái nhà trước quán ăn ấy, có cả Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hoàng Cầm đang dứng giữa đường, bàn to chuyện lắm. Thấy ông Phan Khôi và tôi đi qua thì mọi người hô ầm lên: “Trần Duy đây rồi!” Tôi chưa hiểu và ông Phan Khôi cũng không hiểu gì cả, đứng lại nói chuyện mới biết là hiện nay anh em định ra một tờ báo và thiếu người làm. Thực ra lúc ấy người nào cũng sợ dây vào chính trị, dây vào báo chí lúc bấy giờ ai cũng sợ cả. Tôi thì cho rằng làm báo có cái gì đâu mà sợ, nếu mục đích chính của tờ báo là thơ, văn nghệ, thì chẳng có gì, tôi bảo: “Tôi làm cho”. Sẵn đó có cả ông Phan Khôi thì mọi người bảo mời cả Trần Duy, mời cả bác Phan, bác Phan đứng làm chủ nhiệm hộ cho Trần Duy. Thực ra lúc ấy không ai dám đứng tên, sau vụ Trần Dần không ai dám đứng. Lê Đạt lúc bấy giờ là cán bộ của đảng rồi, không làm. Nguyễn Hữu Đang không dám làm. Lúc ấy chỉ có tôi, tôi bảo: “Tôi làm được vì đứng về mặt tổ chức, ấn loát, nhà in, tôi hiểu, tôi có thể làm được”. Ông Văn Cao mấy lần lên gặp tôi đặt vấn đề này nọ, ông Phan Khôi cũng rất thắc mắc, hỏi: “Ở trong này vai trò của ông Văn Cao là gì mà ông ấy tích cực như thế?” Tôi bảo đùa với ông Phan Khôi: “Anh em vẫn gọi ông ấy là ông tiên chỉ trong làng thơ đấy”. Ông Phan Khôi cười. Đại khái như thế, tôi vào Nhân Văn không có mục đích lớn cũng như tôi bước vào kháng chiến chẳng có mục đích gì cả, thấy vui thì làm thôi, nghịch nghịch, thấy có thể làm được mà không có hại thì làm.
– Thụy Khuê: Thưa bác sau đó việc tổ chức tờ báo Nhân Văn đã xẩy ra như thế nào? Ai quyết định nội dung bài vở trong tờ báo? Ai điều hành tờ báo?
– Trần Duy: Tờ báo nó như hội chợ ấy, chẳng có ai phụ trách ai cả, cãi cọ nhau như ngoài chợ trời ấy cô Khuê ạ. Cãi cọ lung tung, giấy tờ luộm thuộm. Vai trò ông Phan Khôi thì không ai đếm xỉa đến ông ấy cả, người ta chỉ mượn tên ông ấy thôi. Thỉnh thoảng ông đến cũng không ai hỏi ý kiến ông cả, ông ấy có đọc bài vở gì đâu. Tất cả bài vở là do Đang và Đạt quyết định và bài vở tập hợp vào tôi, khi thiếu bài hoặc mise mà không có thì bảo tôi làm cái remplissage lấp lỗ trống hoặc thu dọn bài này, bài nọ, trang mấy, trang mấy có tranh, thì bảo tôi làm. Sự thật ra quyết định bài vở phần lớn là Đang, quyết định nội dung bài là Đạt. Còn thầy cò thầy kiện là ông Văn Cao. Ông Trần Dần, ông Hoàng Cầm là đứng sau lưng. Người chủ động và trực tiếp với tôi là Lê Đạt, người chủ động bài vở là ông Nguyễn Hữu Đang.
Tất nhiên là tôi không quyết định được bài vở rồi, nhưng có bài nào cần thiết thì Lê Đạt bảo: “Ông viết đi, vấn đề này ông viết được, ông viết hộ tôi, ví dụ như tự do sáng tác hay là gì đó thì ông cứ viết, ông lại hơi có cái giọng humour thì ông làm cho tôi… không phải chuyện cười, những chuyện thời sự ông đi góp nhặt các nơi”. Thì tôi phụ trách mục đó và tôi đề TD, là Trần Duy đó. Sau khi mise những bài chính rồi thì tôi là người lấp remplissage phần còn lại của tờ báo. Sự thực ra người ta không bao giờ hỏi ông Phan Khôi về một cái gì cả.
– Thụy Khuê: Đến việc tiền in báo, ai bỏ tiền ra in báo Nhân Văn? Thưa bác, ông Minh Đức có vai trò gì trong việc in báo Nhân Văn mà bị tội nặng như thế?
– Trần Duy: Nó là như thế này: anh Hoàng Cầm có nói là đi vay tiền, thực tế là không vay được. Khi nhận lời thì không có quỹ nào cả, không có đồng tiền nào cả, anh Minh Đức cũng không có tiền, ông Đang không có tiền, bọn anh em thì không ai dám đứng tên chứ đừng nói chuyện bỏ tiền ra. Ngày đầu tiên tôi đến, anh Minh Đức bảo: “Hay là tôi với ông, hai thằng cùng đi vay giấy đi”. Đến vay mấy nơi như nhà in Xuân Thu… nhưng đầu tiên thì đến nhà in Cộng Lực gần chợ Đồng Xuân, Cộng Lực bảo: “Tôi chịu thôi, chúng tôi nhận in thì phải có giấy của Thông Tin Bắc Bộ cho, chúng tôi không có giấy cho vay”. Chúng tôi xuống gặp ông Đỗ Huân, ông ấy cười: “Nếu in thì tớ in cho các cậu, chứ còn cho vay thì tớ không có tiền cho vay”. Có một người khuyên tôi là đi tìm ông Liên và tìm ông Nguyễn Bắc, thì tôi đến tìm Nguyễn Bắc, ông ấy cũng hồ hởi, cũng vui lắm, bảo: “Các cậu phải có giấy phép rồi thì mới ra báo”. Tôi bảo có giấy phép rồi, trên Báo Chí Bắc Bộ có cho rồi. Nguyễn Bắc xem, rồi bảo: “Thế được rồi, để tôi nói với Liên cấp giấy cho các cậu”. Tôi đến tìm anh Liên, anh Liên có ký cho tôi giấy mua ba ram giấy. Tôi đến cùng với Minh Đức, đến hiệu bán văn phòng phẩm bên Trường Thi đó, tôi mua được ba ram giấy. Số báo đầu tiên ra vỏn vẹn trong ba ram giấy, bán hết, được tiền ngay. Trong hai hôm, nhận được tiền liền, đếm tiền đủ có thể mua thêm sáu ram giấy. Vậy, trước chỉ có ba ram giấy thôi, sau khi bán hết số báo đầu tiên, đủ tiền thừa để mua sáu ram giấy. Số thứ hai ra là với sáu ram giấy.
Vậy báo ra là không mượn ai cả, không xin ai hết, tự bỏ tiền mua. Ai bỏ tiền? Minh Đức cho vay tiền. Minh Đức cho vay tiền. Tôi cũng nghĩ anh Minh Đức là người rất tội vì anh Minh Đức là người có nghĩa với anh Đang, chắc anh Đang và Minh Đức cũng có bàn với nhau cho nên Minh Đức đi giật tiền của vợ, giật tiền nhà sách, đưa cho tôi, cũng rất khổ sở chứ không vui vẻ gì. Nhưng Minh Đức là con người rất nhiệt tình, cho nên sau Minh Đức bị tù, tôi nghĩ tôi thương mãi vì tay này chẳng làm gì cả mà đi tù, không dính gì với Nhân Văn hết, chỉ ở ngoài, chỉ là người đã từng ủng hộ anh Đang khi còn ở trong Thanh Hóa và chính Minh Đức là người đã nghĩ ra cách in một lần chạy ba bốn màu. Minh Đức là người có rất nhiều sáng kiến, tội nghiệp anh Minh Đức không có tội gì để lĩnh tù cả. Thực ra Minh Đức đưa tiền để tôi đi mua. Vậy thì tất cả tiền nong là do Minh Đức.
– Thụy Khuê: Thưa bác, ngoài số tiền ông Minh Đức bỏ ra lúc đầu, Nhân Văn còn có nguồn tài trợ nào khác không ạ?
– Trần Duy: Một thời gian chúng tôi nhận được rất nhiều mandat, rất nhiều tiền gửi đến ủng hộ hoặc mua báo trước. Việc này ông Phan Khôi có hỏi tôi rằng: “Những mandat đó anh còn giữ không?” Tôi bảo còn giữ. Ông bảo: “Tốt nhất là anh mang trả lại, đừng dùng tiền đó, báo bán đến đâu lấy tiền đó sử dụng chứ đừng lấy tiền mà anh không biết nguồn ở đâu, tôi là người có kinh nghiệm chuyện đó, có những lần tôi làm ở Trung Bộ, tôi nhận một món tiền rất lớn mà tôi không biết ở đâu, hóa sau ra là tiền của mật thám thành ra nguy hiểm. Tốt nhất là anh không biết nguồn tiền này ở đâu, anh ra bưu điện trả lại”. Tất cả số tiền đó tôi dồn lại và làm theo lời ông Phan Khôi, tôi mang trả lại. Vậy tiền ra báo là không vay mượn ai cả. Đầu tiên là do ba ram giấy, do Sở Văn Hóa Hà Nội cho phép. Ba ram giấy ra được số báo đầu tiên, bán chạy, tất cả tiền mặt đưa về tôi vội vàng mua ngay sáu ram giấy.
– Thụy Khuê: Thưa bác, về điền kiện in ấn, việc in ấn có dễ dàng không? Tại sao ông Đỗ Huân chủ nhà Xuân Thu lại chịu in báo Nhân Văn và ông ấy nhận in trong điều kiện nào?
– Trần Duy: Không ai nhận in cả. Một hôm tôi đi gặp Đỗ Huân. Đỗ Huân hỏi: “Đi đâu mà buồn thế?” – “Đi tìm một nhà in”. Đỗ Huân cười bảo tôi: “Tớ in cho cậu cho!” Tôi thấy tay này là một tay đứng đắn, không bao giờ nói đùa cả, tôi bảo: “Ông nói thật đấy à?” Đỗ Huân bảo: “Có gì đâu mà thật hay đùa, tớ là nhà in, cậu in báo thì tớ in cho”. Nguyên nhân tại sao Đỗ Huân nhận thì tôi không biết, hay là do một cái gì đó, hoặc Đỗ Huân là của ai thì tôi cũng không biết được. Chỉ biết khi Đỗ Huân nhận in thì ở Hà Nội không có nhà in nào dám in. Tôi đã lên hỏi các nhà in, không ai dám in cả. Trừ Đỗ Huân. Nhà in Xuân Thu nhận in mà anh em Xuân Thu cũng rất vui vẻ, không có vấn đề gì. Mãi khi đến khi tờ Nhân Văn bị đình chỉ, thì anh em nhà in mới quay ra đấu tranh chống Nhân Văn thế thôi, còn trong thời kỳ tờ báo đang in, anh em đối với chúng tôi rất vui vẻ, chữa bài vở nửa đêm nửa hôm không có chuyện gì cả.
– Thụy Khuê: Thưa bác, bác có thể xác nhận lại một lần nữa là tờ Nhân Văn không nhận tiền của ai cả không ạ?
– Trần Duy: Tờ báo từ đầu khi nó ra đến khi đóng cửa, không nhận một đồng xu nào của ai cả – Trần Duy nhấn mạnh. Có người nói rằng tôi nhận tiền của Durand, tôi có nói với mọi người là: “Tôi không biết ông Durand. Không biết ông Durand là ai cả. Hơn nữa, nếu nói ông Durand là một nhà trí thức thì nói thật với anh là người trí thức Pháp không bao giờ làm mật thám đâu. Trí thức Pháp là trí thức Pháp, nhiều khi còn chống cả mật thám. Tôi không bao giờ nghĩ là ông Durand nào đó, là một nhà nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam, về cổ học Việt Nam mà là mật thám thì tôi không tin”. Công an có hỏi tôi: “Ông Durand quan hệ với anh thế nào?” Tôi bảo: “Tôi có biết ông ấy đâu mà tôi quan hệ”. Có người lại cho rằng tôi nhận tiền của Ủy Ban Quốc Tế. Tôi bảo tôi cũng không biết Ủy Ban Quốc Tế nằm ở đâu mà làm sao tôi nhận được tiền. Trong quá trình làm báo, tôi không tiếp xúc với một người Âu nào cả, một người ngoại quốc nào hết. Thật ra có mượn một người thế tôi, nhưng rồi sau người đó cuỗm một số tiền còn lại, nó đi đâu mất, anh em cũng không biết gì, đúng thời đóng cửa Nhân Văn. Thành ra tiền nong chẳng có. Còn ngân phiếu, tôi trả lại, nghĩa là Nhân Văn tay trắng, không có một đồng xu nào cả, từ khi nó lên, tay trắng và khi đổ thì cũng chẳng có một đồng xu nào trong quỹ cả.
Subscribe to:
Posts
(
Atom
)








